Nhà văn phải khác biệt

Gốc
KTĐT - Chẳng hiểu sao khi đối diện với ông, tôi cứ thấy ông giống một nhân vật trong truyện của Nam Cao: Lênh khênh, gầy gò, chất phác, bình dị và mê mải văn chương.

Ông là cây bút vốn đã được “gắn tên” với chiến tranh và nông thôn với 6 tập truyện ngắn, 1 tập bút ký. Thế mà “đùng một cái”, cuối tháng vừa rồi, ông lại làm giới văn chương và người mê đọc thảng thốt trước tập truyện ngắn thứ 7 “Dị hương” – một “bước ngoặt” đổi mới tư duy nghệ thuật. “Một nhà văn luôn sáng tạo, không có nghĩa là phải viết hay hơn người khác, mà phải không ngừng bền bỉ, lặng thầm vượt qua chính mình” – ông, Đại tá, nhà văn Sương Nguyệt Minh, đã tâm niệm như vậy và làm được điều ấy, dù không mấy dễ dàng. - Đọc tập truyện ngắn “Dị hương”, rõ ràng một Sương Nguyệt Minh khác hẳn. Không còn miên man, lãng mạn và ám ảnh với sông Thạch Hãn của chiến tranh, với bến nước sân đình, cây rơm, mái rạ và những “chuyện nhà quê” nữa… “Dị hương” là các câu chuyện của thời hiện đại, nỗi đau của bần hàn và cả giàu sang phú quý, cái lãnh lẽo bơ vơ, cô độc trong chính ngôi nhà của mình, cái tha hóa của người nhà quê ra phố trong cuộc sống hiện đại thời kinh tế thị trường… Lại có cả cuộc lội ngược dòng về lịch sử để cảm nhận đánh giá sự kiện, nhân vật. Xin hỏi, từ cơ sở nào nhà văn đã xoay chuyển ngòi bút để có được sự “lột xác” rất rõ rệt ấy? Nhà văn là người sáng tạo không ngừng như dòng sông chảy liên tục chở nặng phù sa tươi tốt bồi đắp cho bờ bãi, ruộng đồng. Dòng sông không chảy là sông lấp, sông chết. Nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn rơi vào lãng quên trong lòng bạn đọc. Tự mình thỏa mãn, nhấm nháp quả ngọt của quá khứ cũng tệ hại như viết mà lặp lại mình. Nó là sự trì trệ, ì ra, đứng lại, không phát sinh, phát triển. Đổi mới sáng tác trước hết là khác với cái mình đã viết, còn vượt qua những tác phẩm cũ của mình thì lại càng khó khăn, nhọc nhằn hơn. Nó là cuộc nhà văn thi đấu maratông khắc nghiệt với chính mình. Nhà văn luôn phải khác biệt mới không lẫn vào đám đông làng văn. Tôi luôn ý thức được điều này nên cố gắng tự đổi mới mình. - Vẫn biết văn chương là phải hư cấu, tưởng tượng. Nhưng, đọc các truyện ngắn của ông, tôi thấy: Tình yêu trẻ trung đam mê với sự ngẩn ngơ buồn bởi trái tim lầm chỗ và sự hoài nghi phụ nữ đến cùng cực (Đêm mùa hạ tuyết rơi), lòng nhân ái tuyệt vời luôn đi cùng sự ranh mãnh, lọc lõi, đáo để (Đàn bà). Hay không tìm được sự chia sẻ của vợ, con mà phải bơ vơ, cô đơn, lang thang giữa ngôi nhà tưởng như bình yên của mình (Đêm thánh vô cùng). Hoặc cuồng nhiệt, quyết liệt chiếm đoạt và hưởng thụ người đẹp với tính dục đậm đặc (Dị hương)… Luôn luôn có hình bóng của một “ông nhà văn” trung niên mà lại rất trẻ trung như tuổi thanh xuân đang…tràn trề sức sống, yêu đam mê, cuồng nhiệt. Phải chăng có một phần cuộc sống thực của Sương Nguyệt Minh trong các tác phẩm này? Nhà văn luôn là người nghệ sỹ lưu giữ hình bóng cuộc đời và tâm hồn con người. Cái điều diễn giải từ tác phẩm của tôi thì cảm xúc, tâm hồn thật đến 100%, còn hình bóng cuộc đời là 100% tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật. Nếu có một phần cuộc sống thực của nhà văn Sương Nguyệt Minh trong các tác phẩm này thì nó cũng đã biến thành hiện thực nghệ thuật rồi, chứ không còn hiện thực cụ thể, thô nháp, trần trụi nữa. Vả lại, đã là nhà văn thì không chỉ giàu trí tưởng tượng mà còn có năng lực vượt trội về sự liên tưởng nữa. Có nghĩa là “trông người mà ngẫm đến ta”, rồi cứ vận các số phận, các chi tiết của thân phận khác vào tác phẩm của mình để biểu đạt ý tưởng. Đi tìm cuộc sống thực của nhà văn trong tác phẩm của họ có khác gì đi tìm kim nơi đáy biển. - Khác hẳn tác phẩm của một nhà văn Sương Nguyệt Minh mặc quân phục trước đó, tập truyện ngắn “Dị hương” có nhiều “trường đoạn” của đời sống tình yêu đôi lứa và vợ chồng gợi cảm. Đây cũng là một bứt phá, thay đổi bút pháp (vốn dữ dội, ám ảnh nhưng vẫn ấm áp, trữ tình) của nhà văn. Vậy ông quan niệm thế nào về vấn đề sex trong văn chương? Sex nếu miêu tả trong trang sách trần trụi, tự nhiên chủ nghĩa đến mức nhơ nhớp, nhầy nhụa… thì chỉ để gây tò mò, kích thích ham muốn bản năng, thỏa mãn mục đích dục vọng thôi. Nó không phải là nghệ thuật. Sex trong văn chương phải là một chất liệu nghệ thuật phục vụ ý đồ sáng tác của nhà văn. Tôi đã viết “Trăng đầu tháng chênh chếch. Bóng Ánh đổ dài kéo thành vệt đến giếng nước. Mỹ nhân vội khép hai đùi, một tay che hai trái tuyết lê căng mẩy, một tay che đám lông mu đen mượt. Thực ra, mỹ nhân không cần phải hốt hoảng che đậy vì chỏm đầu của Nguyễn Ánh đã đổ bóng đen lên ngực nàng”. Miêu tả như thế để nói rằng: Ám ảnh bóng đen sức mạnh đè bẹp, lấn lướt, bao trùm của Nguyễn Ánh đến mọi nơi, mọi lúc, mọi sự việc, kể cả cái đẹp cơ thể lộ diện âm thầm cũng bị phủ lấp. - Và ông cảm nhận thế nào về vấn đề này trong văn chương đương đại hiện nay, đặc biệt của các cây bút trẻ? Đưa sex vào văn chương không khéo thì sẽ giống như con dao hai lưỡi. Người sử dụng dao hoặc sẽ gọt được cam tươi ngon bổ, hoặc là bị… đứt tay. Tôi cho rằng, hiện nay người ta viết sex theo 2 lối: Một là, cố tình viết sex quá tự nhiên chủ nghĩa để kích thích tò mò, gây sốc cho bạn đọc để mình mau nổi tiếng, hoặc để sách bán chạy. Hai là, có ý thức sử dụng sex như một công cụ chở ý đồ sáng tạo, nhưng có thể vụng, non tay nên chẳng khác nào thầy phù thủy thấp tay ấn tung âm binh ra nhưng không điều khiển được. Lợi bất cập hại. - Riêng truyện ngắn lịch sử “Dị Hương”, ông định đưa ra thông điệp gì với bạn đọc? Tôi có viết: Ngọc Bình công chúa là dị hương kết tinh từ mùi hương của bạch lan đài các, quý phái và cỏ thi hiếm thơm dân dã. Nguyễn Ánh là tà hương kết tinh từ mùi máu tanh tưởi, mùi thuốc nổ, và mùi khét của binh khí chạm vào nhau. Thực ra, tà hương Nguyễn Ánh cũng là một loại dị hương của phía tà. Tà hương Nguyễn Ánh biểu hiện của chiến tranh. Dị hương Ngọc Bình biểu hiện của thanh bình, của cái đẹp. Tôi muốn nói đến sức mạnh đen tối khủng khiếp của chiến tranh, nó đi đến đâu là càn quét, đè bẹp nuốt chửng cái đẹp, làm cho cái đẹp thanh bình chết tức tưởi. - Nghe nói, ông đang viết tiểu thuyết khá chật vật? Vâng! Rất chật vật và nhọc nhằn. Tôi đang viết quyển tiểu thuyết về chiến tranh. Quả là mất rất nhiều thời gian và mồ hôi về nó, nhưng vẫn chưa ra đời được. - Vì sao vậy? Vì sao ông không thể viết nhanh như đã từng viết hàng loạt truyện ngắn? Tôi ví truyện ngắn là chạy 100m, tiểu thuyết là chạy đường dài (maratông). Dung lượng tiểu thuyết rộng lớn và sâu hơn truyện ngắn nhiều lần. Công sức, thời gian bỏ ra cho tiểu thuyết nhiều hơn. Nhưng, cái quan trọng nhất đối với tôi bây giờ là tư duy tiểu thuyết. Đi lại con đường các nhà văn Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Nam Hà, Trung Trung Đỉnh… đã từng đi thì tôi lại không muốn. Muốn viết khác các nhà văn đàn anh đã từng viết mà chưa viết được. Rất bức xúc. Cái nghề viết văn nó khổ ải thế đấy! - Thành tựu và tương lai văn chương đương đại có để lại trong ông dấu ấn lạc quan hay chút “sầu muộn”, âu lo nào không? Tôi là người lạc quan với văn chương đương đại. Bạn đọc quốc tế sẽ biết đến văn chương đương đại Việt Nam nhiều hơn nếu tổ chức công việc dịch thuật thật tốt. - Ông nhìn nhận thế nào về các giải thưởng văn chương? Tôi cho rằng cần có các giải thưởng văn chương, nó rất có ích. Nó tạo ra được một không khí văn chương. Nó làm cho người ta quan tâm đến văn chương nhiều hơn. Nó cũng làm cho những người được giải tự tin hơn để bước tiếp con đường sáng tạo quá gian nan, khổ ải này… Chỉ có điều, cuộc chấm thi nào cũng có những ì xèo không nhiều thì ít. Cái điều người ta kêu nhất là tính khách quan của ban giám khảo. Văn chương không giống như toán học, một cộng một bằng hai. Thẩm mỹ khác nhau sẽ cho kết quả chấm thi khác nhau. Ấy là chưa kể, ban tổ chức lại đưa ông nhà thơ chấm tiểu thuyết, và ông viết truyện ngắn chấm trường ca… Rồi ông viết văn làng nhàng lại đi chấm tác phẩm hay của ông viết hay… Nhưng, tôi hy vọng mỗi ngày sẽ tốt hơn. - Xin cảm ơn ông! Nhật Anh (thực hiện)

Tin nóng

Tin mới