Phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam

Gốc
Du lịch Vịnh Hạ Long - Một thế mạnh của của Khu KTTĐ Bắc Bộ (Ảnh: Trần Anh)

(ĐCSVN) - Kỳ 1 của bài viết này (22/3/2010) đã đề cập xu thế khách quan và tiến trình hình thành các vùng KTTĐ của nước ta. Kỳ 2 này tiếp tục phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra trong tiến trình phát triển của các vùng đó, tập trung vào vùng KTTĐ Bắc Bộ - vùng có thủ đô Hà Nội cùng 6 tỉnh, thành khác là: Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. 1. Định hướng phát triển của các vùng KTTĐ Sự hình thành, phát triển của cả 4 vùng KTTĐ như đã đề cập nếu không kể đến vùng ĐBSCL mới được thành lập gần 1 năm nay đang trong giai đoạn khởi động, còn lại cả 3 vùng Bắc-Trung-Nam từ hơn 10 năm qua đều đã và đang từng bước được triển khai theo hướng sẽ xây dựng thành những trung tâm lớn về công nghiệp, có công nghệ cao, trung tâm tài chính, ngân hàng, viễn thông, trung tâm đào tạo và y tế chất lượng cao, trung tâm dịch vụ vận tải và giao thông quốc tế. Nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng lãnh thổ khác nhau của nước ta, các vùng KTTĐ đó sẽ tác động hỗ trợ đến sự phát triển của các vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển. Nằm trong định hướng quy hoạch chung về sự phát triển các vùng KTTĐ đó, các tiểu vùng lãnh thổ thuộc mọi địa bàn khác nhau của 3 miền Bắc, Trung, và Nam Bộ từ miền núi phía bắc, đồng bằng Sông Hồng đến duyên hải miền Trung, trung du và miền núi Tây Nguyên, cho đến vùng ĐBSCL những năm qua đều đã xây dựng và đang tích cực triển khai chiến lược và kế hoạch riêng về phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn. Trong đó, nổi bật lên thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh trong tương lai đến năm 2010 sẽ là những đầu tàu, trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, ngân hàng, công nghiệp công nghệ cao, thương mại, du lịch, hợp tác quốc tế… Thực tiễn cho thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua có được sự tăng trưởng cao và khá ổn định là do nhiều nguyên nhân bắt nguồn từ đường lối đổi mới, hội nhập đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Song cần thấy, sự tăng trưởng đó có một nguyên nhân quan trọng là do sự tác động qua lại không chỉ từ phát triển nội tại từng vùng KTTĐ, mối quan hệ xâm nhập, liên kết lẫn nhau giữa các vùng mà còn do những tác nhân cơ sở hạ tầng thiết yếu khác được hình thành, phát triển từ chính yêu cầu hình thành, phát triển của từng vùng hoặc giữa các vùng như: hệ thống giao thông bao gồm: đường bộ, đường thủy, sân bay, các bến, cảng… trong các vùng KTTĐ và các tỉnh/ thành phố trong cả nước nhằm mục tiêu tác động cùng phát triển. Trong quá trình hình thành và phát triển, tuy còn không ít vấn đề khó khăn, bất cập cần bàn tiếp, song rõ ràng là các vùng KTTĐ đang từng bước khẳng định được sự phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hướng tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận trong vùng. Chính phủ đang tiếp tục định hướng, tạo ra nhiều cơ chế, chính sách phù hợp, khuyến khích các ngành, các cấp, các cơ quan chức năng liên quan đề ra và thực thi nhiều giải pháp thúc đẩy các vùng KTTĐ phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn. Trong đó, định hướng đã thành nguyên tắc chỉ đạo chung của Chính phủ là thống nhất quy hoạch phát triển bền vững trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và cả nước, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và quốc phòng an ninh trong tiến trình hội nhập, phát triển ngày càng sâu, rộng hơn vào kinh tế khu vực và toàn cầu như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra. 2. Vùng KTTĐ Bắc Bộ: Với diện tích tự nhiên 15.278 km2, tổng số dân 14 triệu người, kinh tế toàn vùng hiện chiếm khoảng 21% GDP, tỷ trọng thu hút đầu tư đạt 26% về số dự án, 27% vốn đầu tư, đóng góp 25% ngân sách cả nước. Thu nhập bình quân đạt khoảng 1.000 USD/đầu người/năm, gấp 1,4 lần so với mức bình quân cả nước. Hướng phấn đấu sẽ đóng góp 23-24% GDP cả nước vào năm 2010, vùng này đang hứa hẹn một tiềm năng lớn song cũng còn không ít khó khăn, bất cập trong thực tiễn phát triển, đòi hỏi sự đổi mới, tháo gỡ đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Các đô thị hạt nhân của vùng này là TP Hà Nội, TP Hải Phòng và Hạ Long (Quảng Ninh) trong đó Hà Nội là thành phố trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Trên cơ sở đó sẽ phát triển các chuỗi đô thị theo các hành lang kinh tế tiến đến hình thành các dải siêu đô thị Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Hòa Lạc, Hải Phòng - Hạ Long. Dự kiến dân số Hà Nội đến năm 2020 sẽ đạt 4,5 triệu dân, trong đó dân số đô thị trung tâm nội thành khoảng 3,6 - 3,8 triệu người. Theo Trung tâm Điều tra quy hoạch đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hướng phát triển Hà Nội sẽ về phía bắc sông Hồng là chủ yếu, một phần về phía tây và tây nam, trong đó sẽ lấy sông Hồng là trục chủ đạo để bố cục mặt bằng đô thị Hà Nội. Những vùng ảnh hưởng của đô thị này được xác định trước hết là những khu vực ảnh hưởng trực tiếp của đô thị Hà Nội trong bán kính từ 30-50 km. Theo đó, trong phạm vi vùng Hà Nội sẽ có các đô thị vệ tinh xây dựng và phát triển như: Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn, Phố Nối, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Xuân Hòa, Phúc Yên, Hà Đông... và các vành đai nông nghiệp, cây xanh thuộc các tỉnh Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Dự kiến sẽ xây dựng và hình thành 17 đô thị vệ tinh trực tiếp của Hà Nội. TP Hải Phòng là một trung tâm đô thị cấp quốc gia và là một trong các đô thị trung tâm của vùng trọng điểm phía Bắc sẽ được quy hoạch thành chùm đô thị Hải Phòng có bán kính ảnh hưởng từ 20-30 km. Khu vực nội thành Hải Phòng sẽ là đô thị hạt nhân, giữ vai trò chức năng là thành phố cảng, trung tâm kinh tế (công nghiệp, dịch vụ, du lịch) của toàn vùng Bắc Bộ. Đây được coi là một cửa chính để tiến ra biển của các tỉnh phía Bắc, là một đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc, đồng thời là một vị trí quốc phòng trọng yếu. Theo dự báo, dân số Hải Phòng đến năm 2020 sẽ có khoảng 1,8 triệu người, trong đó dân số nội thành sẽ chiếm khoảng 1,2 triệu dân. Khu vực này kết hợp với các khu đô thị vệ tinh Minh Đức, Đồ Sơn, Núi Đèo, An Lão, Kiến Thụy, Cát Bà... sẽ tạo thành một chùm đô thị duyên hải. TP Hạ Long cũng được coi là một đô thị hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của khu vực tỉnh Quảng Ninh. Dự kiến đến năm 2020, quy mô dân số nơi đây sẽ đạt khoảng 700.000 người và sẽ đảm nhiệm vai trò chức năng chính là thành phố cảng, công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi giải trí. Hỗ trợ cho TP Hạ Long sẽ là một loạt các đô thị khác trong vùng tạo thành một chuỗi đô thị Phả Lại - Chí Linh, Mạo Khê - Tràng Bạch, Nhị Chiểu, Uông Bí - Điền Công, Hà Tu, Cẩm Phả, Cọc 6, Cửa Ông - Mông Dương, Tiên Yên, Móng Cái - Trà Cổ - Vĩnh Thực. Trên cơ sở quy hoạch, việc phát triển đô thị Hạ Long trên quan điểm bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long. Do đó, đô thị sẽ được phân khu rõ ràng theo 4 chức năng chính: chùm cảng biển, kho bãi và công nghiệp kèm theo cảng; khu nghỉ dưỡng Bãi Cháy mở rộng; khu khai thác xuất khẩu than; khu các cơ quan tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh. Và đặc biệt, trong quá trình phát triển cụm cảng Cái Lân sẽ phải tính toán kỹ lưỡng để không ảnh hưởng đến việc khai thác phát triển du lịch vịnh Hạ Long. Cùng với việc phát triển đô thị, hệ thống công nghiệp, thương mại- dịch vụ vùng sẽ được xây dựng phát triển trên cơ sở phù hợp với phát triển đô thị, giao thông vận tải và cân đối sử dụng đất nông nghiệp. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các khu công nghiệp sẽ được tập trung xây dựng như: Khu công nghiệp Đông Anh, Sóc Sơn (Hà Nội); Khu công nghiệp Đò Nống- Chợ Hỗ, Nam Cầu Kiền, Tràng Duệ, An Hồng (Hải Phòng); Khu công nghiệp Đông Mai, Cái Lân (Quảng Ninh); Khu công nghiệp Việt Hòa, Phú Thái, Cộng Hòa, Lai Vu (Hải Dương) Khu công nghiệp Khai Quang, Chấn Hưng, Bà Thiện (Vĩnh Phúc)... Để phục vụ quá trình phát triển, hệ thống thương mại điện tử và hệ thống thông tin, giao dịch thương mại sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Hệ thống các mạng lưới trung tâm thương mại vùng sẽ được mở rộng, tăng cường xây dựng mạng lưới trung tâm triển lãm và hội chợ. Mỗi tỉnh thành trong vùng sẽ xây dựng và có ít nhất 1-2 trung tâm triển lãm hội chợ đến năm 2010. Hoạt động phát triển du lịch vùng được coi là ngành kinh tế mũi nhọn. Vùng sẽ phát triển đa dạng các loại hình du lịch nghiên cứu di tích văn hóa, lịch sử, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương...; du lịch nghỉ mát, biển đảo Hải Phòng, Quảng Ninh... Theo định hướng trên đây, vùng KTTĐ Bắc Bộ đã đạt được những kết quả phát triển khả quan trong những năm gần đây. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của cả vùng này năm 2007 đã đạt tới 13,2%, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,5%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 17,1%; khu vực dịch vụ tăng 12,3%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 16,6 triệu đồng, cao gấp 1,4 lần so với mức bình quân chung của cả nước. Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển đáng kể. Năm 2007, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,4%, công nghiệp và xây dựng chiếm 43,7%, dịch vụ chiếm 45,9% tổng GDP của vùng (năm 2005, các tỷ trọng tương ứng là 12,6%, 42,2%, 45,2%). Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của vùng đạt 26,2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 8 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu 18,2 tỷ USD. Thu ngân sách của vùng tăng bình quân 19,2%, tăng nhanh hơn với mức bình quân của cả nước (18,3%), tổng thu ngân sách của vùng năm 2007 đạt 75.260 tỷ đồng, tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt 34,8%. Chi ngân sách hàng năm tăng bình quân 8%, chi ngân sách năm 2007 là 32.861 tỷ đồng. Trong 2 năm 2006-2007 tổng vốn đầu xã hội để phát triển của vùng đạt khoảng 237 nghìn tỷ đồng, gần bằng tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 5 năm 2001-2005 (257 nghìn tỷ đồng), tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân đạt 25,4%/năm. Tính từ năm 1988 đến hết năm 2007, Vùng KTTĐ Bắc Bộ có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án và 27% tổng vốn đăng ký trong cả nước và 24% tổng vốn thực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự án với tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thực hiện của cả vùng. Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng (268 dự án với tổng vốn đăng ký 2,6 tỷ USD), Vĩnh Phúc (140 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Hải Dương (271 dự án với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD), Hà Tây (74 dự án với tổng vốn đăng ký 1,5 tỷ USD), Bắc Ninh (106 dự án với tổng vốn đăng ký 0,93 tỷ USD) và Quảng Ninh (94 dự án với tổng vốn đăng ký 0,77 tỷ USD). Trong 3 tháng đầu năm 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng KTTĐ Bắc Bộ đã có 66 dự án với tổng vốn đầu tư là 750,4 triệu USD, chiếm 44,9% về số dự án, 14,6% tổng vốn đăng ký của cả nước… Những vấn đề đặt ra cần quan tâm Một là, việc phát triển đô thị và khu công nghiệp trong vùng còn những điểm chưa hợp lý. Hệ thống đô thị của vùng phát triển khá nhanh nhưng chưa có quy hoạch chung với tầm nhìn dài hạn. Trong thời gian vừa qua các tỉnh đồng loạt triển khai lập các đề án khu đô thị mới một cách ồ ạt. Trong các đề án ấy có không ít đề án khu đô thị mới không mang lại hiệu quả, gây lãng phí đất đai và vốn đầu tư. Để giảm bớt sự tắc nghẽn giao thông cho TP Hà Nội cần suy tính và cân nhắc phương án chuyển hướng xây dựng mới các khu công nghiệp sang phía Bắc Hà Nội dễ dàng ra các cảng biển. Hai là, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp và đô thị ngày càng tăng, tình trạng ô nhiễm trên một số con sông như sông Cầu, sông Nhuệ... đã đến mức báo động. Việc xử lý chất thải rắn đang là vấn đề nan giải cần có kế hoạch phối hợp liên tỉnh và rất cụ thể. Ba là, kể từ sau khi Hà Tây sát nhập vào Hà Nội khiến cho có sự thay đổi lớn về địa giới hành chính của thủ đô Hà Nội như hiện nay, đã nảy sinh nhiều vấn đề đặt ra cho cả vùng phải xem xét và bàn thảo: - Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch đối với cả vùng Đồng bằng sông Hồng nói chung và đối với vùng thủ đô Hà Nội nói riêng còn có những bất cập. Nổi bật lên là đối với quy hoạch sử dụng đất phải chú ý theo hướng tiết kiệm và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp. Từ đó cho thấy, nên cân nhắc phương án sử dụng vùng đất bạc màu thuộc khu vực trung du cho các mục đích phát triển công nghiệp và đô thị. Các địa phương cũng cần rà soát lại cơ chế, chính sách trong việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác. Về những vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp đồng bộ, chặt chẽ hơn nữa với các địa phương để sớm xây dựng cơ chế, chính sách để trình Thủ tướng xem xét quyết định. - Hệ thống giao thông nối kết các tỉnh và nhất là hệ thống giao thông từ Hà Nội đi các tỉnh gắn với giao thông của TP Hà Nội cũng nảy sinh thêm nhiều phúc tạp. Việc phát triển đường cao tốc và tuyến đường ven biển cần phải có kế hoạch triển khai nhanh hơn. - Xây dựng cơ sở xử lý rác thải nguy hại về môi trường cho cả vùng nói chung và vùng Thủ đô nói riêng cũng đang là vấn đề bức xúc. - Xây dựng hệ thống cấp nước cho cả vùng Đồng bằng sông Hồng và nhất là cho các thành phố và khu công nghiệp đang đặt ra rất cấp bách. Nhu cầu nước sắp tới là rất lớn nhưng đến nay chưa có kế hoạch xây dựng cụ thể. - Việc phát triển các các khu công nghiệp phải kiên quyết theo hướng chuyển bớt các đô thị mới và các khu công nghiệp mới lên phía trục đường QL21 và QL18. Chỉ có như vậy mới giữ được đất lúa và giảm bớt sự tập trung quá mức cho vùng Đồng bằng sông Hồng. - Nhu cầu lao động có kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ cao là rất lớn, song đến nay vẫn chưa có kế hoạch dứt khoát xây dựng những cơ sở đào tạo nghề đúng tầm cho toàn vùng KTTĐ Bắc Bộ cũng như cho vùng Đồng bằng sông Hồng và cho cả miền Bắc. - Chúng ta đang rất thiếu thông tin, nhất là thông tin kinh tế phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đối với vùng KTTĐ Bắc Bộ. Nhưng hầu hết các ngành và các địa phương chưa tích cực đóng góp công sức để hình thành hệ thống thông tin chung… Kỳ 3: Thực trạng phát triển và vấn đề đặt ra ở các vùng KTTĐ Trung Bộ và Nam Bộ

Tin nóng

Tin mới