Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Lâm nghiệp

Gốc
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 4, sáng 15/11, Với 87,78% ĐBQH tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Lâm nghiệp.

Luật Lâm nghiệp có 12 chương, 108 điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản. Đồng thời, quy định nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp.

Theo đó, rừng được quản lý bền vững về diện tích và chất lượng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Lâm nghiệp - Ảnh 1

Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà và Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu biểu quyết thông qua Luật sáng 15/11. Ảnh: Quang Khánh

Xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của chủ rừng, tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp. Bảo đảm tổ chức liên kết theo chuỗi từ bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản để nâng cao giá trị rừng.

Bảo đảm công khai, minh bạch, sự tham gia của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư liên quan trong hoạt động lâm nghiệp…

Luật cũng quy định nguyên tắc quy hoạch lâm nghiệp phải bảo đảm Phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia; quy hoạch sử dụng đất quốc gia; chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia; chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học.

Bảo đảm quản lý rừng bền vững; khai thác, sử dụng rừng gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và các giá trị văn hóa, lịch sử; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao sinh kế của người dân. Rừng tự nhiên phải được đưa vào quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân; bảo đảm công khai, minh bạch và bình đẳng giới.

Ngoài ra, việc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng và thu hồi rừng phải bảo đảm nguyên tắc phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia, diện tích rừng hiện có của địa phương; phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quan trọng quốc gia; dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khác được Chính phủ phê duyệt; không giao, cho thuê diện tích rừng đang có tranh chấp...

Trước khi biểu quyết thông qua dự thảo Luật, các đại biểu Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật Lâm nghiệp.

Đối với phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1), theo Báo cáo giải trình, có ý kiến đề nghị xem xét bổ sung cụm từ “trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ và phát triển rừng”, “dịch vụ môi trường rừng" vào phạm vi điều chỉnh của Luật, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật đã bao hàm các nội dung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ, phát triển rừng, được thể hiện trong các hoạt động theo chuỗi giá trị lâm nghiệp từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến, thương mại lâm sản và dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản.

Về dịch vụ môi trường rừng (mục 4 Chương VI), những hoạt động lâm nghiệp được sử dụng ngân sách Nhà nước (Điều 93), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (Điều 95), có ý kiến đề nghị xem xét tính khả thi và sự tương xứng giữa quyền, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng với bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng; làm rõ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong điều tiết tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, trách nhiệm xử lý trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ không bảo đảm quyền cho bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng; trách nhiệm của bên nhận nhiệm vụ ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng…

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), Nghị định số 99/2010/NĐ-CP và thực hiện ổn định hơn 7 năm qua ở các địa phương có rừng. Hiện tại, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng hàng năm là trên 1.200 tỷ đồng, được chi trả cho hơn 500.000 chủ rừng, chủ yếu là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư để quản lý, bảo vệ trên 5,7 triệu ha rừng.

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, để bảo đảm hợp lý giữa quyền và nghĩa vụ của các bên, dự thảo Luật đã quy định rõ quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng (Điều 64); quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (Điều 65); đồng thời quy định những nội dung cơ bản trong quản lý chi trả dịch vụ môi trường rừng như: Loại dịch vụ môi trường rừng (Điều 61), nguyên tắc chi trả (Điều 62), đối tượng, hình thức chi trả và quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng (Điều 63), cơ quan nhận ủy thác để chi trả dịch vụ môi trường rừng (khoản 2 Điều 64) đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết về quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng, trong đó có quy định về cơ quan có thẩm quyền quản lý, điều tiết tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng; trách nhiệm của bên nhận nhiệm vụ ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng để phù hợp với từng cấp quản lý...

Hải Ngọc - Châu Tuấn

Tin nóng

Tin mới