Quốc hội thảo luận về Luật Cạnh tranh sửa đổi

Gốc
Sáng 15/11, tham gia thảo luận Luật Cạnh tranh (sửa đổi) tại hội trường, đại biểu Lê Anh Tuấn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Đoàn ĐBQH Hà Tĩnh cho rằng, việc sử dụng chung các chế tài hành chính cho cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh không còn phù hợp.

Quốc hội thảo luận về Luật Cạnh tranh sửa đổi - Ảnh 1

Đại biểu Lê Anh Tuấn phát biểu thảo luận tại hội trường

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 dự thảo cần xem xét cân nhắc có bao gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không. Thực chất cạnh tranh không lành mạnh là hành vi dân sự kinh tế buộc phải có đối thủ bị xâm hại cụ thể. Chủ thể bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại có quyền khởi kiện đối thủ cạnh tranh ra tòa án để yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu có. Bởi thế, việc sử dụng chung các chế tài hành chính cho cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ Điều 113 đến 117 trong dự thảo không còn phù hợp.

Thứ hai, về đối tượng áp dụng của dự thảo mở rộng sang các đơn vị sự nghiệp công lập tại Điều 2, Khoản 1. Điều này chỉ đúng trong những trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập đáp ứng được 2 điều kiện, đó là đơn vị sự nghiệp công lập phải cung cấp hàng hóa dịch vụ trên thị trường và phải là đơn vị tự chủ về tài chính.

Từ thực tiễn vụ việc tập trung kinh tế của Vinaphone, đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty Viễn thông Việt Nam và Mobiphone là doanh nghiệp viễn thông độc lập cho thấy không phải là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh 2004 khi một bên tham gia tập trung kinh tế, là một đơn vị hạch toán phụ thuộc. Do đó, đề nghị cần xem xét lại đối tượng áp dụng có mở rộng sang các đơn vị hạch toán phụ thuộc hay không.

Điều 2, Khoản 3 dự thảo cũng mở rộng sang cơ quan tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan nhằm tránh bỏ sót. Tuy nhiên, đề nghị cần giải thích thêm đây là những chủ thể nào ngoài các đối tượng được nêu tại Khoản 1, Khoản 2 điều này của dự thảo.

Thứ ba, dự thảo chưa thể hiện sự thống nhất, chưa thể hiện rõ mối liên hệ giữa chính sách cạnh tranh quy định tại Điều 6 với chính sách điều tiết ngành cũng như nguyên tắc khi xây dựng áp dụng pháp luật tại Khoản 2 Điều 4.

Khoản 2 Điều 4 xác lập mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh với luật chuyên ngành phải bảo đảm nguyên tắc không được trái với các quy định của Luật Cạnh tranh đã cho thấy sự thiếu rõ ràng và thiếu nhất quán của quy định này trong việc thực thi chính sách cạnh tranh và các chính sách điều tiết ngành kinh tế.

Thứ tư, dự thảo tái cơ cấu Hội đồng cạnh tranh và Cơ quan quản lý cạnh tranh thành cơ quan duy nhất là Cơ quan cạnh tranh quốc gia. Điều này bắt nguồn từ thực tiễn mô hình 2 cơ quan độc lập với nhau và đã phát sinh vướng mắc trong thực thi Luật Cạnh tranh năm 2004. Cơ quan cạnh tranh quốc gia dự kiến là cơ quan thuộc Chính phủ nhưng không thể được tổ chức theo nguyên tắc như các cơ quan khác thuộc Chính phủ. Khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh cơ quan này hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Khi tiến hành tố tụng, xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế thì cơ quan này là nơi thể hiện tính độc lập xét xử của ủy viên, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia.

Trong trường hợp này Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia không thể là cấp trên của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, bởi lẽ Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia cũng như các ủy viên khác đều do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm. Mặc dù dự thảo không quy định cụ thể về tổ chức hoạt động của Cơ quan cạnh tranh quốc gia để bảo đảm phù hợp với Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, nhưng vẫn cần phải quy định nguyên tắc về tổ chức hoạt động và tính đặc thù của cơ quan này khi thực hiện thẩm quyền với những yêu cầu như đã trình bày ở trên.

Phạm Nghĩa

`

Tin nóng

Tin mới