Sức sống của Học thuyết Mác

Gốc
Các Mác.

Đúng vậy! Hơn một thế kỷ rưỡi đã trôi qua, kể từ ngày chủ nghĩa Mác còn là “một bóng ma ám ảnh châu Âu”, nó đã trở thành học thuyết thống trị phong trào công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Với bản chất khoa học và cách mạng, học thuyết Mác đã làm thay đổi căn bản quan niệm của loài người về quá trình vận động, phát triển của lịch sử và vai trò cải tạo thế giới của con người, đồng thời phát hiện những qui luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử và xã hội. Vì vậy, chủ nghĩa Mác đã trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học- hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, giúp họ không chỉ nhận thức mà còn cải tạo thế giới, thực hiện tiến bộ xã hội.

Với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đã trở thành khoa học. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản có một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Đảng Cộng sản- Bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp vô sản đã ra đời, là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học và phong trào công nhân. Điểm vượt trội của học thuyết Mác so với mọi học thuyết là ở chỗ: nó là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, lực lượng, cách thức, hình thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại.

Năm tháng đi qua, một số luận điểm của C.Mác có thể sẽ không còn phù hợp với thời cuộc nhưng giá trị của chủ nghĩa nhân đạo, của quan niệm duy vật về lịch sử và phép biện chứng duy vật- linh hồn của chủ nghĩa Mác, là những giá trị vĩnh hằng, sống mãi. Các trào lưu, trường phái khác có thể sẽ đưa ra những học thuyết mới với những kiến giải mới dưới nhiều màu sắc, quan điểm, lập trường khác nhau, song suy xét đến cùng, chỉ có học thuyết Mác là khoa học và cách mạng, vì con người, vì sự công bằng, tiến bộ xã hội. Lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của nó luôn đứng vững trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; tôn trọng các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là một minh chứng hùng hồn, khẳng định tính tất yếu ra đời của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mà còn chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của học thuyết Mác. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội mới đã được thiết lập trên diện tích 1/6 trái đất. Sau Thế chiến thứ 2, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã ra đời; qua thăng trầm lịch sử, đã và đang tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình như là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử không thể đảo ngược.

Với những khuyết tật của một mô hình chủ nghĩa xã hội và những sai lầm do chủ quan, duy ý chí của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở Đông Âu, chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước này đã bị sụp đổ, làm cho chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Chính điều đó khẳng định rõ rằng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, bất kể Đảng Cộng sản nào, nếu vi phạm thô bạo những nguyên tắc mácxít-lêninnít, làm trái quy luật khách quan, mắc “bệnh” chủ quan duy ý chí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì tất yếu, Đảng Cộng sản ấy mất vai trò lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước đó bị sụp đổ, nhân dân lao động rơi vào cảnh lầm than; chiến tranh, xung đột vũ trang, mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc... là không thể tránh khỏi.

Lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới chỉ ra rằng, sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, tính chất thời đại đã thay đổi mang tính bước ngoặt. Điều đó vừa đặt ra những thời cơ, vận hội đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vừa đặt ra những khó khăn, thách thức mới đối với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và chính nó đòi hỏi những người cộng sản phải xác định đúng đắn con đường, biện pháp để giải quyết các mâu thuẫn, thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Đối với Việt Nam, trước cảnh nước mất nhà tan và cuộc khủng hoảng đường lối chính trị, cũng như con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của các sĩ phu yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã lâm vào tình cảnh bế tắc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước từ tháng 6 - 1911. Qua 10 năm bôn ba, làm nhiều nghề để sinh sống và đi đến nhiều nước phát triển, Người đã không choáng ngợp trước sự giàu có của chủ nghĩa tư bản, mà ngược lại, đã tận mắt nhìn thấy nỗi thống khổ của người dân lao động, những khuyết tật, bất công của giai cấp bóc lột và bản chất “thiếu nhân đạo” của chủ nghĩa tư bản; hiểu thấu đáo như thế nào là “tự do, bình đẳng, bác ái”. Người khẳng định: Giai cấp tư sản không phải là người bạn của giai cấp vô sản và chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người; nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì không thể cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bất công. Vì vậy, Người đã tin tưởng và đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo V.I.Lênin vĩ đại, coi Cách mạng Tháng Mười Nga và học thuyết Mác- Lênin là chân lý và là con đường duy nhất đúng đắn để giúp đồng bào ta đấu tranh, giành lại độc lập, tự do.

Rõ ràng, chủ nghĩa Mác- Lênin thật sự là “chiếc cẩm nang thần kỳ”, đã giải đáp trúng, rõ ràng những vấn đề mà bấy lâu Người trăn trở, tìm kiếm, giúp Người tìm thấy con đường đấu tranh và tất yếu giành thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác- Lênin đã ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước và tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người dân lao động trên thế giới khỏi thân phận nô lệ, lầm than; mới đưa họ trở thành chủ nhân của chế độ xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa. Từ đó, Người ra sức đấu tranh, bảo vệ, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam; vạch con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta. Thắng lợi của việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, của cách mạng Tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc chống Mỹ xâm lược cũng như những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 30 năm qua, trước hết là thắng lợi của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là điều minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất về sức sống trường tồn của một học thuyết khoa học, cách mạng; về cội nguồn chiến thắng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Trước đây cũng như hiện nay, kẻ thù “lớn nhỏ” của chủ nghĩa Mác đã, đang và sẽ tiếp tục dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt, kể cả “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để công kích, bài xích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” chủ nghĩa Mác. Làm việc đó, chính họ đã bộc lộ sự sợ hãi, thừa nhận sự yếu thế và hoảng loạn về tinh thần và trên thực tế, là thừa nhận sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác.

Trước sự vận động, biến đổi phức tạp của thời cuộc; thời cơ, vận hội đan xen với các nguy cơ, thách thức, hàng loạt vấn đề phức tạp về kinh tế, chính trị, xã hội… đang đặt ra bức xúc, đòi hỏi Đảng ta phải làm sáng tỏ về mặt lý luận- thực tiễn nhiều vấn đề để phát triển kinh tế- xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một trong những giải pháp mang tính nguyên tắc không được mắc sai lầm là nhận thức đúng và tìm kiếm những lời giải đáp khôn ngoan, hiệu quả từ sự nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, đặc biệt là phép biện chứng duy vật khoa học, cách mạng; kiên định quan điểm, lập trường: Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Đây cũng là giải pháp hữu hiệu để phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Đồng thời, góp phần tích cực vào việc giải đáp các vấn đề thực tiễn đặt ra; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác tổng kết lý luận- thực tiễn 30 năm đổi mới (1986 - 2016), làm cơ sở để soạn thảo, đóng góp ý kiến vào các văn kiện đại hội Đảng các cấp và chuẩn bị văn kiện trình Đại hội XII của Đảng, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X tới đây.

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự - Bộ Quốc phòng

Tin nóng

Tin mới