Tiếc cho Xin lỗi, em chỉ là...

Gốc
Cái đích cuối cùng của một tác phẩm sân khấu vẫn là chuyện trình làng, qua sự tương tác của tác giả, tác phẩm và người xem; qua mấy suất diễn đầu tiên, cái cảm giác dễ nhận ra nhất nơi vở kịch này là… tiếc, nhất là ở hai vấn đề nêu dưới đây.

Công bằng mà nói thì hiếm khi giới sân khấu Việt Nam mới chứng kiến một sự đầu tư bài bản và có quy mô cho một vở kịch như Công ty V.Art đã có nỗ lực để làm; từng tuyên bố mức đầu tư 4 tỷ đồng, dù kinh nghiệm thực tế cho thấy thì con số này chỉ là “ước mơ” thôi. Tuy nhiên, Từ việc chọn địa điểm không đắc địa Nhà hát Hòa Bình thật sự là một địa điểm “thách thức” các đạo diễn sân khấu, vì không gian ở đây quá rộng và quá phức tạp cho việc bài trí, biểu diễn. Tác phẩm gốc Xin lỗi, em chỉ là con đĩ của Tào Đình thuộc thể loại tâm lý xã hội, đi vào các bi kịch của gia đình, tình yêu, sự xa cách, thù hận... chứ không có gì cần hoành tráng cả. Khi nghe tin Trang Hạ và Hoàng Vũ cùng bắt tay vào chuyển thể kịch bản; Hoàng Vũ và Yến Chi làm đạo diễn; nhà sản xuất thì nói sẽ làm hoành tráng, ai cũng tò mò. Vì với đặc thù của các câu chuyện éo le kiểu này, chuyển thể sang thể loại phim truyền hình thì rất dễ câu khách, nhưng đưa lên sân khấu kịch thì quá khó để làm hoành tráng. Người ta cũng tò mò vì muốn xem những “cảnh nóng”... vốn mô tả bằng văn học dễ, đưa lên sân khấu thì thường vô vàn khó khăn. Cảnh trong Xin lỗi, em chỉ là... Ngay khi chạy đường dây, diễn phúc khảo, cái cảm giác sân khấu cứ liên tục trống trải, thiếu ánh sáng... hẳn đã làm cho những người thực hiện nhận ra. Trong suất diễn gần đây, đã có thêm khoảng 20 vai quần chúng bên cạnh 15 vai có tên, thêm một hai tiết mục múa, nhưng trống trải vẫn hoàn trống trải. Mà khi trống trải, người xem thường khó bị hút vào các lớp diễn (có đến khoảng 18 lớp diễn), và vở kịch 3 tiếng đồng hồ không có giờ giải lao, dài càng thêm dài. Xem xong Xin lỗi, em chỉ là... những người biết việc đều tiếc nuối rằng: Giá mà vở này chọn địa điểm sáng đèn ở các sân khấu nhỏ hơn như 5B, Thế giới trẻ, IDECAF... thì sẽ tạo được hiệu quả nhiều hơn. Vì sân khấu rộng, nhiều lớp diễn nhân vật bậc khóc hay bộc lộ nội tâm, khán giả ngồi xa nên chẳng nhìn thấy gì. Thường các xu hướng viết kịch ngày nay là sau mỗi lớp diễn thì phải tạo ra một điểm nhấn để khán giả vỗ tay và tiếp tục chờ đợi, theo dõi. Vở kịch này được viết theo lối cũ, toàn bộ cao trào, thắt nút dồn vào một hai lớp diễn gần cuối, nên khán giả không kịp tìm cho mình sự tán thưởng. Mấy lần vỗ tay tán thưởng trong suốt 3 tiếng đồng hồ thì lại rơi vào nhân vật Đại Bản (MC Trấn Thành đóng), một vai hài, trong khi tuyến chính của vở diễn lại là bi. Phần thị giác của Ngô Quang Hải gần như thất bại “Vai” diễn kém hiệu quả nhất trong vở kịch này lại thuộc về đạo diễn điện ảnh Ngô Quang Hải, khi anh đứng trong vai trò xử lý hiệu ứng hình ảnh. Trong nhiều thập niên qua tại Việt Nam, việc đầu tư 4 tỷ đồng cho một tác phẩm sân khấu có thể nói là kỷ lục, nhưng dường như khả năng tạo ra sự hoành tráng thì lại thuộc về những đạo diễn có nghề như Kim Vân Kiều của Hoa Hạ, Tả quân Lê Văn Duyệt của NSND Doãn Hoàng Giang, Ngàn năm tình sử của NSƯT Thành Lộc, Nỏ thần của Đỗ Đức Thịnh... Với một màn vải di động cao khoảng 4 mét, rộng khoảng 7 mét, những người dàn dựng muốn lấy đây làm tấm che mặt tiền để thiết đặt sân khấu khi chuyển lớp, chuyển cảnh. Lý do của việc xuất hiện màn hình, chắc vì sân khấu quá rộng, nếu không có nó thì việc bài trí lại sân khấu sau mỗi lớp diễn sẽ quá lâu và dễ sai sót (?). Và từ cái màn vải này, qua các hình ảnh từ máy phóng, Ngô Quang Hải đã làm cho người xem nhiều phen cười ra nước mắt. Cảm giác chung cho phần hình ảnh thiếu cảm xúc này là chưa chia sẻ được ý tứ, ý đồ của kịch bản. Với sân khấu, thủ thuật quan trọng nhất là tượng trưng và ước lệ, mấy ngàn năm qua người ta đã mặc nhiên công nhận điều đó. Ngô Quang Hải và nhóm thực hiện dường như không chấp nhận quy tắc này nên muốn tìm một con đường khác, điều này hoàn toàn đáng khích lệ, vì cuối cùng cái lợi vẫn thuộc về khán giả. Thế nhưng trong trường hợp này thì phần thị giác gần như thất bại, vì mấy lý do sau. Thứ nhất, minh họa quá thô thiển kiểu như khi Lưu Quang Đông hiếp dâm thì màn hình hiện lên cảnh con báo vồ mồi; nói đến tình yêu thì hoa hồng nở; nói đến cái chết thì ngọn nến tàn; nói đến cấp cứu thì xe cứu thương hiện ra, chạy băng băng trên xa lộ... Cảnh bà Bội Ngọc bị sốc và ngã ra ngất xỉu, khả năng biểu cảm của nghệ sĩ Tú Trinh rất giỏi, đáng lẽ khán giả sẽ tán thưởng, tự nhiên đèn xe cứu thương hiện ra trên xa lộ, khán phòng cười ồ lên. Đó là chưa nói cảnh hai nhân vật nói chuyện với nhau lần cuối bằng điện thoại di động, màn hình lại minh họa bằng điện thoại bàn, cũng làm cho khán giả cười rộ, thay vì xót xa, xúc động cho cảnh chia ly. Thứ hai, vì muốn mượn thị giác để bù đắp, che lấp đi những phần trống trải của sân khấu, nhưng kết quả thì thị giác lại lấn lướt cả đường dây nhân vật, làm mất tập trung, thập chí bẻ gãy cao trào cảm xúc của nhân vật và người xem. Văn Bảy

Tin nóng

Tin mới