Tiếp bước Đổi mới vì một Việt Nam phồn vinh

Gốc
(HQ Online)- Sau Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành quả phát triển kinh tế - xã hội to lớn nhờ những nỗ lực cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế. Cho đến nay, thế và lực của nước ta đã khác xa hàng chục năm trước. Các điều kiện bên trong và bên ngoài thay đổi một cách căn bản.

Tiếp bước Đổi mới vì một Việt Nam phồn vinh - Ảnh 1

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII diễn ra từ ngày 20 đến 28-1-2016. Trong ảnh: Khắp các ngả đường của Thủ đô Hà Nội trang hoàng rực rỡ cờ hoa, băng rôn, biểu ngữ , khẩu hiệu... để chào mừng Đại hội. Ảnh: HỮU LINH.

Vì vậy, để tiến hành những bước cải cách mạnh mẽ trong thời gian tới, cần đánh giá đúng những điều kiện, năng lực và nguồn lực thực có.

Hành trình chọc thủng bức tường thành của tư duy cũ

Những sáng kiến đổi mới thể chế kinh tế thực tế đã bắt đầu từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Chính những sáng kiến đó đã chọc thủng bức tường thành của tư duy cũ, mở ra tầm nhìn mới và chúng mới thực sự là những bước cải cách quan trọng. Bối cảnh đất nước lúc đó cực kỳ khó khăn, buộc người ta phải tìm cách tháo gỡ những rào cản để tự cứu mình. Đó là động lực mạnh mẽ làm cho cải cách trở thành tất yếu.

Trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất sau khi thống nhất đất nước, động lực của đổi mới chính là: “cải cách để tự cứu mình hay là chết”. Những sáng kiến cải tiến cơ chế kinh tế theo hướng giảm bớt kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường đã xuất hiện đầu tiên từ thực tiễn ở các đơn vị cơ sở xuất phát từ động lực ấy. Chính nhờ có những sáng kiến đổi mới cơ chế sản xuất - kinh doanh ở các đơn vị cơ sở, mà Trung ương đã từng bước sửa đổi các quy định kinh tế theo hướng giảm kế hoạch hóa tập trung và tăng thị trường hóa, mở rộng mức độ tự do hoạt động kinh doanh cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa 4 (8-1979) về việc giải phóng sức sản xuất, phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, các Quyết định 25-CP và Quyết định 26-CP (1-1981) về kế hoạch ba phần trong công nghiệp, giao thông vận tải, Quyết định 217-HĐBT (1987) về việc giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu kế hoạch đã xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nhân dân và dựa trên tổng kết sáng kiến “phá rào” của các đơn vị cơ sở.

Sau 30 năm Đổi mới (từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - tháng 12-1986) hay gần 40 năm Đổi mới (nếu tính từ những năm 70), Việt Nam đã đạt được những thành quả phát triển kinh tế - xã hội to lớn nhờ những nỗ lực cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế giúp khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, giải phóng sức sản xuất trong nước và khai thác thị trường thế giới. Việt Nam đã chuyển biến mạnh, từ một nước thiếu lương thực kinh niên trở thành nước xuất khẩu lương thực lớn trên thế giới. Nền kinh tế tăng trưởng khá so với các nước, ngay cả những giai đoạn kinh tế khu vực và toàn cầu gặp khó khăn. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm giai đoạn 1986-1990 là 4,4%, giai đoạn 1991-1995 là 8,2%, giai đoạn 1997-1999 là 7%, giai đoạn 2000-2005 là 7,51%, giai đoạn 2006-2010 là 6,7% và giai đoạn 2011-2015 ước đạt 5,88%. Với tốc độ tăng trưởng này, từ nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, Việt Nam đã gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới năm 2010 (với bình quân GDP theo đầu người đạt trên 1.000 USD).

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế trong thời gian qua chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Các nguồn lực chưa được huy động và sử dụng với hiệu quả cao...

Ngoài ra, sự tăng trưởng kinh tế chưa đủ nhanh để rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Chỉ tiêu GDP trên đầu người thể hiện trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn thấp hơn so với của các nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia...

Nhiều vấn đề cần tới sự cải cách kiên quyết và triệt để

Quá trình Đổi mới đã tạo ra những thay đổi lớn trong tư duy lý luận và thể chế kinh tế. Có năm nội dung thay đổi lớn trong tư duy kinh tế:

Một là mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bị bác bỏ để chuyển dần sang mô hình “kinh tế hàng hóa”, rồi “kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”, và đến nay là “kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

Hai là từ quan niệm nền kinh tế công hữu là chính với thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo chuyển sang thừa nhận các thành phần kinh tế “ngoài quốc doanh”, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, rồi tiến tới khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.

Ba là từ lý luận và hệ thống chính sách phân phối chỉ theo lao động chuyển sang áp dụng nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối theo lao động và theo hiệu quả kinh doanh là chính. Các công cụ kinh tế đã được áp dụng để điều tiết phân phối thu nhập.

Bốn là từ chính sách kinh tế đối ngoại hạn chế, với chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, đã chuyển sang tư duy mở cửa, hội nhập quốc tế rộng và sâu ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu.

Năm là vai trò của Nhà nước trong kinh tế từ chỗ được tuyệt đối hóa, Nhà nước làm mọi thứ, can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế ở tất cả mọi khâu, đã chuyển sang xác định rõ hơn giới hạn sự can thiệp và thể chế hóa cách thức can thiệp của các cấp chính quyền đối với hoạt động kinh tế.

Những thay đổi về quan điểm lý luận kinh tế như trên đã được luật hóa. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và các văn bản pháp luật đã cụ thể hóa các nội dung trên trở thành khung khổ cho hành động. Trên 150 bộ luật, luật đã được ban hành cùng với hệ thống văn bản dưới luật phức tạp. Nhiều nội dung luật đã theo thông lệ và chuẩn mực luật pháp quốc tế về cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, trong đó có những vấn đề cần tới sự cải cách kiên quyết và triệt để.

Đó là, mô hình “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” còn chưa được lý giải rõ. Nên chăng trong kinh tế chúng ta nên xác định rõ “phát triển kinh tế thị trường”, còn những nội dung thực hiện công bằng xã hội theo lý tưởng của Chủ nghĩa xã hội khoa học thì nên cụ thể hóa ở những nhiệm vụ phát triển xã hội? Việc xác định rõ ràng và tách bạch giữa thể chế kinh tế thị trường mang tính phổ quát của nhân loại và nhiệm vụ phát triển xã hội theo những chuẩn mực đặc thù của Việt Nam sẽ làm cho chủ thuyết phát triển đất nước trở nên rõ ràng hơn; tạo điều kiện dễ dàng hơn để hoàn thiện thể chế kinh tế theo những thông lệ quốc tế và qua đó thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với thể chế kinh tế quốc tế.

Bên cạnh đó, đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu đã được coi là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. Tuy nhiên, cả đích đến lẫn hệ thống giải pháp, biện pháp để thực hiện vẫn chưa được đề ra đủ mức cụ thể. Tổng kết những năm qua cho thấy “nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được”, song mục tiêu cho 5 năm tới vẫn được đề ra là “xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, do đó tiêu chí thế nào là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại là một nhiệm vụ phải nghiên cứu xác định.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 20-1-2016 đến ngày 28-1-2016, diễn ra tại Hà Nội, các đại biểu tập trung đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại chặng đường 30 năm đổi mới đất nước, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong 5 năm tới.

Nhìn chung, Đổi mới để phát triển là nhu cầu tất yếu của mọi nền kinh tế, mọi quốc gia. Song công cuộc Đổi mới ở Việt Nam là một quá trình đặc biệt, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt, với nội dung đặc biệt và với cách thức tiến hành cũng đặc biệt. Sẽ còn phải tốn nhiều công sức để sưu tầm lại thông tin, mô tả lại lịch sử đúng như nó đã từng diễn ra, đánh giá từ góc độ biện chứng và khách quan để tổng kết những bài học lịch sử. Trên cơ sở đó phát huy giá trị, tiếp tục cải cách đổi mới mạnh mẽ trong giai đoạn tới.

Tin nóng

Tin mới