Đăng nhập

Đăng nhập để trải nghiệm thêm những tính năng hữu ích
Zalo

Tính toán kỹ nguồn lực, đảm bảo tính khả thi Quy hoạch tổng thể quốc gia

Các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát, cân đối các giải pháp, nguồn lực thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện, tiềm năng phát triển của đất nước.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV, sáng ngày 6/1, Quốc hội thảo luận tại tổ về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thảo luận tại tổ, nhiều ý kiến đại biểu đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của Chính phủ trong thời gian vừa qua, đã đầu tư công sức, trí tuệ để hoàn thành báo cáo Quy hoạch tổng thể quốc gia cũng như nội dung các tờ trình, dự thảo nghị quyết của Quốc hội để trình tại kỳ họp. Đồng thời nhấn mạnh, đây là vấn đề hết sức cấp thiết, bởi Quy hoạch tổng thể quốc gia được phê duyệt sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các đồ án quy hoạch ngành quốc gia và quy hoạch vùng kinh tế xã hội trọng điểm.

Huy động vốn đầu tư đã và đang gặp nhiều khó khăn

Đại biểu Nguyễn Thành Trung, Đoàn ĐBQH tỉnh Yên Bái, phát biểu thảo luận. (Ảnh: KT)

Đại biểu Nguyễn Thành Trung, Đoàn ĐBQH tỉnh Yên Bái, phát biểu thảo luận. (Ảnh: KT)

Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Thành Trung (Đoàn ĐBQH tỉnh Yên Bái) cho rằng, việc xây dựng Quy hoạch tổng thể quốc gia là nhiệm vụ mới, lần đầu tiên được triển khai theo quy định của Luật Quy hoạch năm 2017, Báo cáo được xây dựng công phu, chi tiết, cụ thể. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa quy hoạch tổng thể quốc gia và các loại quy hoạch khác chưa được xác định rõ.

Góp ý giải pháp về huy động vốn đầu tư để thực hiện quy hoạch, theo đại biểu, Báo cáo cần nghiên cứu sâu, phân tích kỹ hơn về nội dung này. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 7% trong giai đoạn 2021 - 2030, dự kiến cần 48,3 triệu tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với giai đoạn 2011 - 2020 (khoảng 15 triệu tỷ đồng). Đây là con số rất lớn, cần tính toán kỹ để bảo đảm tính khả thi.

“Tờ trình và Báo cáo đã nêu ra một số giải pháp cơ bản. Đây là các giải pháp đã và đang thực hiện, chưa có giải pháp mới. Với những giải pháp hiện nay thì việc huy động vốn đầu tư đã và đang gặp nhiều khó khăn” - đại biểu phát biểu.

Đối với vốn đầu tư từ NSNN, đại biểu dẫn Báo cáo nêu “Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước cần huy động khoảng 9,7 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2030, chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư”. Trong khi đó, nguồn lực dành cho đầu tư phát triển giai đoạn 2021 - 2025 đã được Quốc hội quyết định là 2,87 triệu tỷ đồng, cộng thêm vốn từ chương trình phục hồi mới đạt trên 3 triệu tỷ đồng. Vì vậy đại biểu đề nghị cân nhắc, tính toán kỹ về định hướng khả năng thu NSNN, mức bội chi và nợ công trong giai đoạn tương ứng, từ đó xác định nguồn lực NSNN dành cho đầu tư phát triển hợp lý, sát với thực tế hơn và gắn chặt với an ninh tài chính quốc gia.

Góp ý về nội dung định hướng và tổ chức không gian các ngành quan trọng, đại biểu cho rằng, việc lựa chọn các ngành ưu tiên hiện tại còn dàn trải, chưa thể hiện được định hướng ưu tiên, do đó, cần rà soát, thu hẹp danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển.

Bên cạnh đó, đề nghị cân nhắc nghiên cứu xem xét gắn với phát triển đối với công nghiệp hỗ trợ phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp và nông thôn, công nghiệp cơ khí chế tạo, bởi đây là ngành mang tính nền tảng để phát triển các ngành công nghiệp khác, quy hoạch công nghiệp gắn với các ngành để mang lại giá trị cao.

Đối với định hướng phát triển và phân bổ không gian các ngành dịch vụ chủ yếu, theo đại biểu, Báo cáo mới chỉ đề cập đến du lịch, thương mại, mà chưa thể hiện rõ quy hoạch định hướng phát triển trong lĩnh vực dịch vụ tài chính.

Về Danh mục dự án quan trọng quốc gia và thứ tự ưu tiên thực hiện, đại biểu nhìn nhận, việc xác định danh mục các chương trình, dự án quan trọng của quốc gia, gồm 38 chương trình, dự án mang tính định hướng chung, chưa dự kiến về thời gian, quy mô, nguồn lực và chưa xác định được thứ tự ưu tiên; chưa rõ sự cần thiết, ý nghĩa, vai trò, tác động đối với quy hoạch tổng thể quốc gia. Theo đó, nội dung này tại Tờ trình và Báo cáo chưa thể hiện được tầm nhìn, quy mô lớn tầm chiến lược quốc gia, liên kết vùng, phát triển hành lang kinh tế, vùng động lực quốc gia như yêu cầu đặt ra đối với các Dự án quan trọng của quốc gia phải là các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa, có tác động lớn đến ngành, vùng, đất nước, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời, đại biểu nhấn mạnh việc xây dựng Danh mục dự án quan trọng quốc gia phải phù hợp với khả năng bố trí nguồn lực đầu tư công, nguồn lực xã hội và bố trí vốn tập trung, tránh dàn trải, lãng phí.

“Tôi đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, nên giới hạn số lượng và xác định được thứ tự ưu tiên để bảo đảm tập trung nguồn lực thực hiện, bảo đảm chất lượng dự án, thể hiện được tầm nhìn, quy mô chiến lược, liên kết vùng, phát triển hành lang kinh tế, vùng động lực quốc gia” - đại biểu nêu quan điểm.

Hai vấn đề tạo động lực nhanh, bền vững

Đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Nam. (Ảnh: KT)

Đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Nam. (Ảnh: KT)

Phát biểu ý kiến, đại biểu Vương Quốc Thắng (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Nam) đưa ra hai vấn đề mà Quy hoạch tổng thể quốc gia cần quan tâm rất lớn là nguồn nhân lực chất lượng cao và các đột phá trong nghiên cứu khoa học công nghệ. Đại biểu nhấn mạnh, “hai vấn đề này tạo động lực nhanh và bền vững cho bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.

Góp ý cụ thể, về hệ thống giáo dục đại học, đại biểu đề xuất cần nghiên cứu bài bản, hệ thống giáo dục theo định hướng phân tầng trong hệ thống giáo dục đại học, đặc biệt cần quan tâm hệ thống các trường, đại học đào tạo có tính tinh hoa. Hệ thống này sẽ đào tạo ra các nhà khoa học, các nhân tài, các nhà giáo hàng đầu. “Đây được xem là máy cái của hệ thống giáo dục đại học, cũng như hệ thống khoa học công nghệ quốc gia; các nước phát triển, trong khu vực đều có các hệ thống trường đại học có tính tinh hoa” - đại biểu nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng mạng lưới các trường đại học cũng phải rõ từ các đại học quốc gia, đại học vùng, phải có thiết kế hài hòa, đảm bảo tính đáp ứng. Gắn liền với quy hoạch thì phải có nguồn lực, tạo động lực phát triển hệ thống giáo dục đào tạo.

Hệ thống giáo dục đại học cũng phải gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia.

Tương tự, trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đại biểu đề nghị nghiên cứu và định hướng phát triển mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia gắn với khởi nghiệp quốc gia, trong đó có tính liên kết ngành, liên kết vùng địa phương. Xem đổi mới sáng tạo khởi nghiệp quốc gia là động lực phát triển đột phá trong giai đoạn tới.

Trong khi đó, đại biểu Đỗ Đức Duy (Đoàn ĐBQH tỉnh Yên Bái) đề nghị tính toán lại về tốc độ tăng trưởng GDP chung của cả nước cho phù hợp với tốc độ tăng trưởng của các vùng. Bởi theo đại biểu: “Dự thảo nghị quyết của Quốc hội là 7%/năm trong khi chỉ tiêu tăng trưởng của 5/6 vùng kinh tế xã hội đều cao hơn mức độ này như: vùng Đông Nam Bộ là 8 - 8,5%/năm; vùng Đồng bằng sông Hồng là 9%/năm; vùng trung du miền núi phía Bắc là 8 - 9%/năm; vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung là 7 - 7,5%/năm; vùng Tây Nguyên là 7 - 7,5%/năm; chỉ có vùng Đồng bằng sông Cửu Long thấp hơn là 6,5 - 7%/năm, trong khi tỷ trọng đóng góp của vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng trong GDP là rất lớn”./.

Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, hình thành được các vùng, trung tâm kinh tế, đô thị động lực, có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản, đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi khí hậu; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm.

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả nước bình quân đạt khoảng 7,0%/năm giai đoạn 2021 - 2030, trong đó vùng Đông Nam Bộ tăng khoảng 8 - 8,5%/năm, vùng Đồng bằng sông Hồng khoảng 9%/năm. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD.

Tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu Việt Nam là nước phát triển, thu nhập cao, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Các vùng phát triển hài hòa, bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh. Hệ thống đô thị thông minh, hiện đại, giàu bản sắc, xanh. Giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Môi trường có chất lượng tốt, xã hội hài hòa với thiên nhiên, phát triển hiệu quả theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, carbon thấp.

Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5 - 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2050 đạt khoảng 27.000 - 32.000 USD. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2050 đạt 70 - 75%. Chỉ số phát triển con người ở mức rất cao, đời sống của người dân hạnh phúc; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.

Nhóm PV