Tổng thống B.Obama cải cách hệ thống y tế Mỹ

Gốc
KTĐT - Ngày 23/3, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký ban hành Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe cho nước Mỹ. Trước đó, với tỷ lệ 219 phiếu thuận và 212 phiếu chống, Hạ viện Mỹ ngày 21/3 đã thông qua dự luật cải cách y tế mà Tổng thống Barack Obama đề xuất vốn đã được Thượng viện nước này thông qua trước đó.

Theo tính toán của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ, chính quyền Obama sẽ phải chi khoảng 938 tỷ USD cho đạo luật nói trên trong vòng 10 năm để mở rộng phạm vi bảo hiểm tới hầu hết người dân Mỹ, kể cả khoảng 32 triệu người hiện chưa có bảo hiểm. Đạo luật cải cách y tế lần này là thay đổi lớn nhất trong hệ thống y tế của Mỹ kể từ sau năm 1965 khi Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson thông qua chương trình Medicare chăm sóc sức khỏe cho công dân Mỹ từ 65 tuổi trở lên. Kể từ năm 1939, nhiều Tổng thống Mỹ muốn thay đổi chính sách y tế song đều đã thất bại. Phát biểu tại lễ ký đạo luật, tổ chức tại Nhà Trắng, Tổng thống Obama nói "Giờ đây chúng ta đã có được nguyên tắc cơ bản là tất cả mọi người đều có sự an ninh cơ bản nhất định đối với sức khỏe của mình". Với việc Hạ viện Mỹ thông qua dự luật cải cách y tế, Barack Obama đã tạo ra thêm một di sản lịch sử nữa khi trở thành vị tổng thống đầu tiên thực hiện được giấc mơ của đảng Dân chủ, đó là khiến cho hầu hết người dân Mỹ đều được chăm sóc sức khỏe. Trước đó Obama đã giành được một vị trí độc nhất vô nhị trong lịch sử nước Mỹ khi trở thành tổng thống da màu đầu tiên của nước này sau cuộc bầu cử năm 2008. Giờ đây, những người ủng hộ ông có thể tuyên bố rằng Obama là vị tổng thống ghi được chiến công cải cách ngoạn mục nhất chí ít là từ thời Lyndon Johnson, người đã phê chuẩn luật quyền công dân và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và già cả. Hiên nước Mỹ đang chi khoảng 2.200 tỷ USD mỗi năm cho y tế, cao hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Theo số liệu năm 2007, chi phí trung bình một năm đối với một người Mỹ là hơn 7000 USD, trong lúc tại Na Uy, nơi có chi phí cao nhất châu Âu, là 4.763 USD, tại Pháp - 3.600. Ở Thụy Điển, chi phí còn thấp hơn nữa - 3.323 USD. Theo số liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Mỹ đang chi gấp 2,5 lần so với mức trung bình của OECD cho dịch vụ y tế. Năm 2008, Mỹ chi 16% GDP cho dịch vụ y tế. Văn phòng Ngân sách của Quốc hội (CBO) dự tính con số này sẽ tăng lên 25% vào năm 2025 nếu luật liên bang không thay đổi. Một số nhà phân tích cho rằng chi phí y tế tăng cao làm giảm sức cạnh tranh toàn cầu của Mỹ. Luật cải cách y tế mà Quốc hội Mỹ vừa thông qua đòi hỏi các cá nhân và công ty Mỹ phải mua bảo hiểm y tế và làm cho bảo hiểm y tế dễ tiếp cận hơn. Vụ Thống kê lao động Mỹ cho biết năm 2006 khoảng 71% công nhân trong các công ty tư nhân được hưởng chương trình bảo hiểm y tế do công ty trợ giúp. Tháng 11/2008, Quỹ Kaiser Foundation cho biết tỷ lệ công nhân có thu nhập thấp được hưởng chương trình bảo hiểm y tế do công ty trợ giúp đã giảm xuống, do bảo hiểm y tế tối thiểu của công nhân đã tăng 114% trong thập kỷ qua. Các công ty nhỏ ít có khả năng mua được bảo hiểm y tế cho công nhân, như một hình thức phúc lợi lao động. Phòng Thương mại Mỹ cho biết bảo hiểm y tế cho nhân công chiếm tới 12% tổng chi phí của các công ty Mỹ. Một số nhà phân tích cho rằng bảo hiểm y tế đang trở thành gánh nặng cho các công ty làm ăn trên đất Mỹ và đẩy họ vào thế bị mất lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Ví dụ Tập đoàn ô tô General Motors (GM) phải chi mỗi năm khoảng 5 tỷ USD để bảo hiểm y tế cho hơn 1,1 triệu nhân viên và công nhân của hãng, nghĩa là bảo hiểm y tế chiếm từ 1.500 USD đến 2.000 USD trong mỗi chiếc ô tô xuất xưởng. Tuy nhiên các chuyên gia khác lại cho rằng bảo hiểm y tế, với tư cách một loại hình phúc lợi lao động, đang tác động tích cực tới các ngành công nghiệp Mỹ. Thực tiễn cho thấy các công ty Mỹ đã hoạt động tốt trong quá khứ, bất chấp chi phí bảo hiểm y tế tăng cao, chủ yếu nhờ năng suất cao và môi trường đầu tư thuận lợi. Đây sẽ tiếp tục là những nhân tố chủ chốt quyết định sức cạnh tranh của ngành công nghiệp Mỹ. Dù sao, bảo hiểm y tế cũng vẫn là một trong những nhân tố làm tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp Mỹ và là một trong những vấn đề thường gây căng thẳng trong các cuộc thương thuyết giữa công đoàn và chủ công ty. Các nhà kinh tế hiện vẫn chưa thống nhất về số công ăn việc làm bị mất do các công ty phải chuyển sản xuất ra nước ngoài để cắt giảm chi phí. Báo cáo tháng 6/2009 của tập đoàn nghiên cứu RAND cho biết nhịp độ tăng trưởng của các ngành sản xuất có chi phí y tế cao, như chế tạo, viễn thông, giáo dục và tài chính, đã giảm xuống trong giai đoạn 1987-2005. Tạp chí “Tin Mỹ và thế giới” cho rằng 15 ngành sản xuất của Mỹ sẽ bị mất công ăn việc làm, nếu chi phí bảo hiểm y tế tăng lên 20% GDP. Bảo hiểm y tế cũng đang tác động tới khả năng thuê tuyển lao động lành nghề của các công ty mới thành lập và vì thế hạn chế sáng kiến sản xuất của các công ty. Theo luật vừa được quốc hội Mỹ thông qua, các cá nhân phải mua bảo hiểm và các công ty phải bảo hiểm y tế cho nhân viên của mình, nếu không sẽ bi phạt. Tiền phạt sẽ được chuyển vào quỹ trợ cấp bảo hiểm y tế của chính phủ. Nhờ đó luật này sẽ làm giảm số người không được bảo hiểm y tế, dự kiến tới 60%. Chính phủ Mỹ sẽ phải chi thêm 871 tỷ USD cho bảo hiểm y tế, nhưng theo tính toán của CBO, nó lại góp phần làm giảm thâm hụt ngân sách liên bang 132 tỷ USD vào năm 2019. Theo Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ, luật mới sẽ bảo đảm cho hơn 30 triệu người nữa được bảo hiểm y tế, trong khi tổng chi ngân sách tăng thêm chưa đầy 1%. Chi phí cho bảo hiểm y tế theo luật này được bù đắp nhờ các loại thuế mới và nhờ cắt giảm chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi. Báo chí Mỹ cho rằng đây là thành công và chiến thắng lớn mang dấu ấn của Tổng thống Ôbama trong 16 tháng nắm quyền vừa qua, đồng thời lấy lại uy tín phần nào cho đảng Dân chủ sau một loạt thất bại trong các cuộc bầu cử gần đây, tạo tiền đề thuận lợi cho cuộc bầu cử giữa kỳ vào cuối năm nay. Việc Hạ viện thông qua dự luật là sự kiện chưa có tiền lệ trong lịch sử cận đại Mỹ vì nó được thông qua mà không có phiếu thuận nào của Hạ nghị sỹ đảng Cộng hòa và được cho là sẽ làm trầm trọng hơn sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ, giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Tuy nhiên không nên đánh giá quá cao tác động của Luật cải cách y tế tới bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2010, vì kinh tế vẫn là mối quan tâm lớn nhất của cử tri Mỹ. Trong gần như tất cả các khía cạnh kinh tế, như triển vọng phục hồi, công ăn việc làm và thu nhập, cử tri Mỹ đều tỏ ra bi quan hơn so với một tháng trước đây. Trong khi dồn toàn lực cho vấn đề cải cách y tế, những người Dân chủ đã để mất trận địa trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả là chỉ có 38% ủng hộ đảng Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, trong khi tỷ lệ ủng hộ dành cho đảng Cộng hòa là 44%. Tuy nhiên thắng lợi của đảng Dân chủ trong cải cách y tế có thể làm thay đổi quan niệm của cử tri trong một loạt vấn đề khác, như đã từng xảy ra trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1994. Đảng Dân chủ còn 6 tháng nữa để có thể làm thay đổi tình hình và công ăn việc làm mới chính là nhân tố làm “thay đổi cuộc chơi”. Ông Barack Obama lên nắm quyền với cam kết thực thi những cuộc cải cách xã hội và chính trị sâu rộng trong bối cảnh nước Mỹ lâm vào cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, những dự định của ông đã bị chậm lại do sự cản trở đảng Cộng hòa cũng như tỷ lệ ủng hộ ông ngày một sụt giảm. Do đó chiến thắng của ông trong kế hoạch cải cách y tế sẽ củng cố quyền lực của ông tại Washington và xa hơn nữa.Chiến thắng này cũng có thể đánh bóng hình ảnh của ông ở nước ngoài, nơi mà một số nhà quan sát đã bắt đầu đặt dấu hỏi về sự cứng rắn của một vị tổng thống từng được giải thưởng Nobel hòa bình, song vẫn chưa đạt được thành tựu quan trọng nào trong chính sách đối ngoại./. Nguyễn Chiến

Tin nóng

Tin mới