Truyền thống khoan dung Việt trong lịch sử

Gốc
Liên tiếp mấy năm gần đây, vào Tết Nguyên đán, Lao Động Cuối tuần đều định vị một chủ đề bàn luận thế sự - lịch sử và đặt tôi mỗi năm mới một cuộc đối thoại với nhà sử học Lê Văn Lan.

Truyền thống khoan dung Việt trong lịch sử - Ảnh 1

Lễ vong hồn. Ảnh: Lê Vượng

Năm nay, là chủ đề truyền thống khoan dung của người Việt trong lịch sử. Về chữ Khoan Dung, chúng tôi có cách hiểu không hẳn giống nhau, nhưng chính vì thế, giữa chúng tôi mới nên/ phải thiết lập cơ sở ngữ nghĩa cho từ khoan dung, trên tinh thần đối thoại cởi mở và thẳng thắn.

Nhà sử học Lê Văn Lan (LVL): Khoan dung, theo tôi hiểu là sự tổng hòa ý nghĩa của ba nhóm từ: Nhóm thứ nhất, chủ là chữ Hòa: Hòa thuận, hòa hiếu, khoan hòa… Nhóm kế tiếp là chữ Nhân: Nhân ái, nhân từ, nhân văn… Nhóm thứ ba là chữ Mở: Cởi mở, rộng lượng, rộng lòng vị tha... để đi đến Khoan Dung, là hợp lưu ngữ nghĩa của ba nhóm từ này. Khoan Dung, vì thế, đã cưu mang được tính cách và lối sống của người Việt, trong ứng xử văn hóa, từ gia đình đến xã hội, trong sự chi phối không ngừng của lịch sử ngàn năm Việt, với các biến động đa dạng, phức tạp và thú vị.

Nguyễn Thị Minh Thái (NTMT): Tôi lại muốn hiểu khoan dung một cách gần gũi, thiết thực hơn, theo chiết tự: Khoan là sự rộng rãi, khả năng dung nạp rộng, với tinh thần độ lượng cao. Thí dụ: khoan ái là rộng lòng yêu thương. Dung là bao dung, dung hòa, dung hợp, Vậy, khoan dung là rộng lòng bao dung, thậm chí là sẵn lòng hiếu hòa, tha thứ…Vậy cứ theo cách hiểu của ông, trong lịch sử Việt, tinh thần khoan dung được hiển lộ thế nào và triều đại nào của kỷ nguyên Đại Việt đã chứng tỏ khoan dung là một cử chỉ lịch sử nổi bật?

LVL: Mặc dù chúng ta không đồng thuận lắm về cách hiểu từ khoan dung, nhưng trong cách hiểu của chúng ta vẫn có gặp gỡ nhất định. Trên nghiên cứu của tôi, tôi thấy lĩnh vực khoan dung sáng giá nhất của sử Việt Nam trong kỷ nguyên Đại Việt chính là khoan dung tôn giáo. Trong lịch sử du nhập tôn giáo từ phương Đông và Phương Tây vào Việt Nam, sự tiếp nhận của người Việt không bao giờ là cực đoan, nghiệt ngã, hay lạnh lẽo, kỳ thị, mà là sự tiếp nhận rộng lượng, nhân ái, thuận hòa. Có lẽ vì thế, ở VN hầu như không có chiến tranh tôn giáo. Ngay từ thời Lý - Trần, đã diễn ra sự kiện tôn giáo đặc sắc về tinh thần khoan dung: Tam giáo đồng tôn, giữa Nho - Phật - Đạo. Theo tôi, nghĩa bản vị của cụm từ này là đồng tôn, không chắc là đồng nguyên, theo cách gọi thông thường là Tam giáo đồng nguyên. Và đồng tôn, là tôn trọng nhau, không lệ thuộc, không áp đặt, xâm lấn nhau, và cùng tồn tại. Tôn giáo nào trong ba tôn giáo này cũng nhận được sự tôn trọng của người Việt về sự độc lập của chính tôn giáo ấy. Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, dù vào Việt Nam theo cách nào, cũng đều được Việt hóa, và tôn giáo nào cũng được tôn trọng, trong đời sống xã hội của người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây chính là cơ sở văn hóa của sự khoan dung tôn giáo ở Việt Nam. Tôi nghĩ chỉ ở VN mới có cách tôn giáo sống chung với nhau rất lạ biệt và cũng rất phổ quát: chùa Việt Nam có gian thờ chính là nhà Tổ, thờ Phật, gian sau thờ Mẫu, và các vị thần được thờ trên tinh thần đồng tôn. Được thờ cúng chung như thế, được tôn trọng sự độc lập đến thế, không phân biệt ngôi cao thấp giữa các vị Phật, Thần, Mẫu… đó chẳng phải là biểu hiện đẹp nhất của khoan dung tôn giáo ở Việt Nam sao? Các thể chế chính trị ở phương Tây thường cưa đứt đục suốt (nhận xét của F. Engels), không có sự liên lạc tiếp nối và đồng tôn như thế, nên ở Việt Nam, mỗi lát cắt lịch sử thường chứa đựng sự dung hòa giữa quá khứ, với hiện tại và tương lai.

Chính vì thế, ở Việt Nam đã tiếp tục xuất hiện sự khoan dung trong lĩnh vực rất khó khoan dung, đó là lĩnh vực quân sự, chính trị. Đây chính là ứng xử Việt mang nhiều tinh thần rộng lượng, khoan hòa, tha thứ. Ở thế kỷ 13, năm 1289, sau chiến thắng Bạch Đằng, kết thúc 3 cuộc đại thắng quân Nguyên, các vị vua nhà Trần không chỉ nổi bật ở tinh thần Sát Thát của danh tướng Trần Bình Trọng, mà còn cư xử đầy khoan dung với những lầm lỗi lịch sử của khanh tướng nhà Trần. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông dù biết mười mươi (do lấy được tài liệu mật từ cuộc quy hàng của Thoát Hoan) tội phản nghịch của các vị tướng lĩnh, quan lại tôn thất nhà Trần (viết sớ xin hàng Thoát Hoan, dâng đất, vàng bạc cống nạp, nịnh nọt thăng quan tiến chức…), nhưng hai vị vua anh minh và nhân ái này đã chọn cách ứng xử: coi như không biết, và tha cho bằng hết các vị tôn thất phản nghịch này, sai đốt sạch các thư từ tài liệu ghi chép về tội phản nghịch lấy được từ Thoát Hoan, để làm yên lòng những kẻ phản nghịch (điều này được sử gia Ngô Sĩ Liên ghi chép và bình luận trong “Đại Việt Sử ký toàn thư”). Quả nhiên người đời không ai biết được ai là phản nghịch, tội lỗi của họ đã được cha con vua đầu triều Trần xóa sạch, bởi thế, sau đó, đã có người lấy công chuộc tội.

Xa hơn, ở thế kỷ 10 cũng vậy, các vị quan Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đã từng chống phá vua Đinh Tiên Hoàng. Khi Đinh Tiên Hoàng mất, Lê Hoàn thập đạo tướng quân đánh giặc thành công, lên ngôi vua, Lê Đại Hành đã quên hận thù mà sử dụng em trai ruột Phạm Hạp là Phạm Lượng, phụ trách quân đội của nhà nước Đại Cồ Việt. Tôi nghĩ đó là bằng chứng rất nhân văn về khoan dung chính trị. Và cũng vì độ lượng, năm 1077, Lý Thường Kiệt chủ động điều đình sau khi đánh quân Tống đại bại trên phòng tuyến sông Cầu, mở lối thoát cho địch trong danh dự.

Tôi nghĩ cách gọi Tam giáo đồng tôn của ông có phần hơi mới mẻ và xa cách với cách dùng chữ của các nhà sử khác, khi họ dùng cụm từ tam giáo đồng nguyên. Tôi nghĩ họ không phải không có lý khi dùng Tam giáo đồng nguyên, trên tinh thần sự hợp nhất ba tôn giáo Phật - Nho - Đạo, được quy về một mối, là Tam giáo hợp nhất, hay là tam giáo nhất thể. Họ cũng cho rằng, Tam giáo hợp nhất thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Tùy, Đường. Thời Tống, Nguyên vẫn duy trì tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Ở Việt Nam, Tam giáo đồng nguyên phát triển mạnh ở thời Lý Trần. Tinh thần hỗn dung tôn giáo này mang rất nhiều yếu tố tích cực, song, giữa Nho - Phật - Đạo không phải không nảy sinh vấn đề. Ngay cuối thời nhà Trần, Nho giáo đã phát triển nên muốn hạ Phật giáo xuống vị trí thấp hơn mình, các Nho sĩ lên tiếng mạnh mẽ đả kích Phật giáo. Cuộc khởi nghĩa Trần Cảo thế kỷ 16 mang màu sắc Đạo giáo là điển hình…

Sau khi đánh tan giặc Minh năm 1427, không những chấp nhận cho Vương Thông “giảng hòa”, và thấy rõ tướng giặc “thực bụng cầu hòa” rút tàn quân về nước, Lê Lợi lại còn cấp thuyền, ngựa, lương thực… cho cuộc lui quân này, nhằm mục đích “ta muốn giữ toàn quân để dân yên nghỉ”. Nên việc tha thứ, khoan dung của người Việt trong lịch sử đã thành một truyền thống, được tiếp nối rất tốt đẹp trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này…

NTMT: Tôi nghĩ sự khoan dung tôn giáo mà nhà sử đề cập, phải chăng cũng cần phân định rõ việc thờ Phật và thờ Mẫu trong cùng một ngôi chùa là có sự khác biệt, vì Phật giáo là tôn giáo, còn thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian bản địa Việt, nên tinh thần “Tam giáo đồng tôn”, vì thế, sẽ không bao gồm tín ngưỡng thờ Mẫu. Đấy là theo cách hiểu của tôi.

Theo nghiên cứu của các nhà văn hóa Việt, ngôi làng Việt chính là đơn vị căn cơ nhất của tổ chức xã hội nông nghiệp Việt truyền thống và nhà nước Việt, như nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn hóa sử cương”, nhà nước Việt chính là hình ảnh phóng to của cái Làng, nên đã khởi nguồn cho từ ghép là làng nước.Và liên đới với nội dung của câu tục ngữ Việt: “Sống ở làng, sang ở nước”, bởi nhà nước (quốc gia) là tổng thể của nhiều làng, siêu làng.

Vì thế, nguyên tắc cao nhất chi phối quan hệ làng xã Việt cổ truyền lại là một tinh thần khoan dung huyết thống: “Chị ngã em nâng”, “Lọt sàng xuống nia”, “Tay đứt ruột xót”, “Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì”, “Con chị nó đi, con dì nó lớn”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”... Và sau đó là khoan dung của người làng với nhau, dù không cùng huyết thống, nhưng cùng ở một làng, là người cùng làng, “hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán họ hàng xa mua láng giềng gần”. Theo ông, trong lịch sử phát triển hiện đại của xã hội Việt Nam, tinh thần khoan dung làng xã đang bị đánh mất hoặc bị bạc phai là do đâu?

LVL: Kể từ sau Cách mạng tháng Tám, với tính cách người làm sử, tôi phải đau lòng thừa nhận một sự kiện lịch sử: Cải cách ruộng đất xảy ra, về cơ bản đã phá hủy nặng nề và bi thảm tinh thần khoan dung làng xã truyền thống. Làng xã vốn là nơi đầy tinh thần thương yêu gắn bó, bởi huyết thống kiểu “gia tộc chủ nghĩa”, bởi tình người cùng làng, cùng phường hội, cùng trong tổ chức Giáp, cha truyền con nối… Thế nhưng, cải cách ruộng đất đã hủy diệt cấu trúc cổ truyền bền vững ấy của làng xã Việt, biến làng xã Việt thành nơi nồi da nấu thịt, tàn phá công điền, hủy hoại sự nhân ái hòa đồng của lối sống bao dung, lành hiền, nhân hậu của làng xã Việt cổ truyền. Kể từ đó, tinh thần khoan dung đã bị lung lay tận gốc, và đến bây giờ thì…

NTMT: Bây giờ thì sao, thưa ông? Có cách nào khắc phục không? Tôi thuận theo cách nghĩ của cụ Đào Duy Anh, cho rằng, xã hội Việt Nam vốn là một xã hội, về cơ bản là thuần nông, trọng tình nghĩa, trọng bảo tồn hơn là phát triển, lại đang tiến tới một xã hội hiện đại, với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, nên tất yếu phải gặp bi kịch của sự phát triển. Căn tính nông dân chính là nguyên nhân của bi kịch này. Và tinh thần khoan dung bị phá vỡ cũng là một biểu hiện xác đáng của bi kịch này, phải không, thưa ông?

LVL: Lối sống của xã hội Việt hiện đại hôm nay đang nghiêng rất nhiều về sự ưa chuộng vật chất, và sự hướng ngoại, trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Ảnh hưởng từ nước ngoài đến Việt Nam đã không được Việt Nam hóa tử tế, nghĩa là không được sàng lọc, rất xô bồ và hỗn tạp, thậm chí “thả cửa”, nhất là đối với giới trẻ. Tinh thần khoan dung căn cơ của xã hội cổ truyền bị đứt gẫy. Tội ác và bạo lực xuất hiện từ gia đình đến nhà trường, và đang bị lây lan toàn xã hội. Vậy lối nào là lối thoát? Ý của bạn là thế nào?

NTMT: Tôi cho rằng, phải tìm cách trở về ngọn nguồn của lối sống khoan dung tình nghĩa ngày xưa. Dù trong xã hội cổ truyền không phải cái gì cũng tồn tại một cách đẹp đẽ và hữu lý. Nhưng về cơ bản, xã hội cổ truyền đã xây dựng và xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên một tinh thần khoan dung tôn giáo, chính trị và cả quân sự nữa, trên cơ sở khoan dung từ trong làng xã cổ truyền. Nếu tinh thần ấy được di truyền đến hôm nay, được thẩm thấu vào quan hệ giữa chủ thể văn hóa Việt, trong ứng xử văn hóa, với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, và tinh thần ấy phải chiếm một tư thế thượng phong cho sự phát triển hôm nay, thì thật là hồng phúc cho xã hội Việt Nam trong phát triển hiện đại…Vì thế, xin cảm ơn nhà sử học Lê Văn Lan về cuộc đối thoại cần thiết và thú vị này!

Tin nóng

Tin mới