Đăng nhập

Đăng nhập để trải nghiệm thêm những tính năng hữu ích
Zalo

Vì sao điện than tăng thêm 3.000MW trong Quy hoạch Điện VIII?

Theo Bộ Công thương, về bản chất đây là do đẩy một số dự án ở giai đoạn sau năm 2030 lên giai đoạn 2026-2030 để tránh nguy cơ thiếu điện.

Bộ Công thương vừa chính thức trình lên Chính phủ dự thảo Đề án quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Bộ Công Thương dự báo công suất cực đại năm 2025 đạt khoảng 59.389-61.357 MW; năm 2030 khoảng 86.493-93.343 MW; năm 2035 khoảng 113.952-128.791 MW; năm 2040 khoảng 135.596-162.904 MW và năm 2045 khoảng 153.271-189.917 MW.

Tương ứng với công suất tiêu thụ đó, năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 102.590-105.265 MW. Trong đó: thủy điện đạt 25.323 MW chiếm tỷ lệ 24,1-24,7%; nhiệt điện than 29.679 MW, chiếm tỷ lệ 28,2-28,9%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 14.117 MW, chiếm tỷ lệ 13,4-13,7%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối,...) 29.618-31.418 MW, chiếm tỷ lệ 28,9-29,8%; nhập khẩu điện 3.853-4.728 MW chiếm tỷ lệ 3,7-4,5%.

Sau khi được Hội đồng thẩm định họp xem xét và bỏ phiếu thông qua, Bộ Công Thương đã hoàn thiện và chính thức trình Đề án Quy hoạch điện VIII lên Chính phủ.

Như vậy, theo Bộ Công thương, các nguồn điện đã có sự cân đối hơn. Nhiệt điện than giảm tỷ trọng đáng kể trong hệ thống nguồn điện so với hiện nay, còn năng lượng tái tạo có sự chững lại, trong khi đó nhiệt điện khí tăng lên.

Nhiệt điện than đến năm 2030 là 40.899 MW, chiếm tỷ lệ 28,4-31,4%. Còn nhiệt điện khí năm 2030 tăng rất mạnh, công suất lên đến 27.471-32.271 MW chiếm tỷ lệ 21,1-22,4%.

Đáng chú ý, đến năm 2045 tỷ trọng nhiệt điện than giảm xuống, chỉ chiếm tỷ lệ 15,4-19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) tiếp tục tăng lên, chiếm tỷ lệ 23,5-26,9%.

Báo Thanh niên dẫn lời ông Hoàng Tiến Dũng, Cục trưởng Cục Điện lực và năng lượng tái tạo (Bộ Công thương), cho hay không hề có sự gia tăng các nguồn điện than như một số ý kiến bày tỏ.

“Việc các ý kiến nói tăng là bởi họ so sánh con số tăng thêm 3.000 MW tại thời điểm 2030 so với các kịch bản trước. Nhưng bản chất thì đây là do đẩy một số dự án ở giai đoạn sau năm 2030 lên giai đoạn 2026 - 2030 để tránh nguy cơ thiếu điện do vừa qua một số nguồn điện bị chậm tiến độ”, ông Dũng nói.

Cụ thể, tại tờ trình, Bộ Công thương cho hay, tổng công suất đã đưa vào vận hành giai đoạn 2016 - 2020 chỉ đạt 80% quy hoạch, với 28.377 MW. Trong đó, các nguồn nhiệt điện (than, khí) chỉ thực hiện được 63%, thủy điện chỉ đạt 61% và nhiều nhà máy khu vực miền Bắc chậm tiến độ nên đã dẫn tới tình trạng thiếu hụt nguồn điện trong một số thời điểm.

Trước đó, trong kiến nghị lần thứ 4 gửi tới Bộ Công thương và các cơ quan liên quan, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) cho rằng, dự thảo lần này thể hiện những bước lùi so với bản trước đây khi tăng thêm khoảng 3.000 MW điện than và giảm khoảng 8.000 MW điện tái tạo vào năm 2030 trong khi lộ trình điện cạnh tranh chưa rõ ràng, bố trí nguồn lực thực hiện Quy hoạch, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư chưa thuyết phục.

Giá nhiệt điện than, khí và năng lượng tái tạo thay đổi thế nào?

Tổ chức phi chính phủ Oil Change International đã có sự so sánh giá quy dẫn (LCOE) điện từ năng lượng hóa thạch (than, khí) với giá điện từ năng lượng tái tạo (gió, mặt trời).

Theo đó, từ năm 2009 đến năm 2020, giá 1 MWh điện từ gió đang giảm 70%, điện mặt trời giảm 90% trong khi giá điện khí giảm 29% còn giá điện than hầu như không thay đổi.

Vào năm 2020, LCOE điện than là 112 USD/MWh, cao hơn nhiều so với điện mặt trời 37 USD/MWh và gió 40 USD/MWh.

Cũng theo Oil Change International, giá điện mặt trời ở Việt Nam rẻ nhất so với các nguồn khác. LCOE điện mặt trời sẽ rẻ hơn điện từ khí đốt vào năm 2021 và LCOE điện gió sẽ rẻ hơn điện khí đốt vào năm 2025. LCOE điện mặt trời cũng đã nhỏ hơn LCOE điện than năm 2021 và LCOE điện khí sẽ nhỏ hơn LCOE điện than vào năm 2027.

Minh Thái (Tổng hợp)

Nguồn Đất Việt: http://datviet.trithuccuocsong.vn/khoa-hoc/khoa-hoc/vi-sao-dien-than-tang-them-3000mw-trong-quy-hoach-dien-viii-3440528/