Việt Nam nhập ngô nhất thế giới: FDI lợi đơn lợi kép

Gốc
Một số doanh nghiệp Việt Nam học cách làm của 'đại gia' FDI, nhưng nó chỉ dành cho doanh nghiệp có tiền, còn doanh nghiệp nhỏ, vốn ít đành bó tay.

Ông Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Chăn nuôi Việt Nam trao đổi với Đất Việt xung quanh câu chuyện Việt Nam chi hàng tỷ USD để nhập khẩu ngô hàng năm và có thể trở thành quốc gia nhập khẩu ngô lớn nhất thế giới.

Không có lợi thế thì cứ nhập

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, trong 10 tháng đầu năm 2015, lượng ngô nhập khẩu của Việt Nam đạt 5,72 triệu tấn, giá trị nhập khẩu là 1,26 tỷ USD, tăng gần 56% về khối lượng và gần 33% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Với lượng nhập khẩu này, Việt Nam được dự đoán sẽ vượt qua Indonesia để trở thành quốc gia nhập khẩu nhiều ngô nhất thế giới.

Việt Nam nhập ngô nhất thế giới: FDI lợi đơn lợi kép - Ảnh 1

Mỗi năm Việt Nam chi hàng tỷ USD để nhập khẩu ngô. Ảnh: TBKTSG

Không bất ngờ trước thông tin này, ông Đoàn Xuân Trúc cho rằng đây vừa là nghịch lý nhưng cũng có lý. Nghịch lý ở chỗ, Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản lớn của thế giới nhưng hàng năm vẫn chi hàng triệu USD để nhập khẩu ngô. Thế nhưng xuất phát từ điều kiện tự nhiên của Việt Nam, ông Trúc chỉ rõ, lâu nay Việt Nam tập trung vào lúa gạo, dĩ nhiên đó là hướng đi đúng để tăng cường an ninh lương thực, xuất khẩu... nhưng đến giờ nảy sinh một số vấn đề.

Đó là: bởi Việt Nam xuất khẩu gạo giá thấp nên nguồn ngoại tệ thu về không nhiều, kéo theo thu nhập của người nông dân không cao, thậm chí có ý kiến cho rằng giá gạo Việt Nam xuất đi còn thấp hơn giá gạo mà người tiêu dùng Việt Nam mua. Nếu cứ chạy theo chủ trương tăng cường xuất khẩu gạo, không khéo Việt Nam trở thành nước sản xuất lúa gạo giá rẻ trên thế giới. Bởi tập trung vào cây lúa nên đất trồng các loại cây khác trong đó có ngô, đậu tương của Việt Nam rất ít.

Trồng lúa tốn nhiều nước, còn trồng ngô thì nhu cầu nước ít hơn. Nhưng diện tích trồng ngô hiện nay còn ít, ngô Việt Nam năng suất chưa cao nên khi giá thành ngô trong nước còn cao hơn giá ngô nhập về.

"Giờ Việt Nam chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng không phải một chốc, một lát là được. Nó đòi hỏi cả quá trình cải tạo đất, thay đổi thói quen trồng cấy, bảo quản, tiêu dùng...", Tổng thư ký Hội Chăn nuôi Việt Nam nhấn mạnh.

Cũng theo ông Đoàn Xuân Trúc, để giải quyết vấn đề này, phải đẩy nhanh sản lượng ngô trong nước bằng cách mở rộng diện tích, sử dụng giống mới năng suất cao, kèm theo đó là công nghệ.

"Vừa rồi Bộ NN&PTNT cho sử dụng ngô biến đổi gen, đó là điều hợp lý và nên mở rộng bởi ngô biến đổi gen cho năng suất cao, chống chịu bệnh tốt, giúp giá thành hạ xuống, không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thế giới dùng ngô biến đổi gen nhiều, ngay như Mỹ cũng chủ yếu dùng ngô biến đổi gen làm thức ăn chăn nuôi rồi họ lại xuất khẩu gà, lợn khắp thế giới. Huống chi Việt Nam nhập khẩu ngô làm sao kiểm soát được hết nguồn gốc, làm sao có thể chắc đó không phải là ngô biến đổi gen?

Việt Nam mở rộng chăn nuôi, sản lượng ngô trong nước tăng chậm nên có nhu cầu nhập nhiều. Nhập nhiều cũng có cái hay của nó, có thể được chất lượng tương đối tốt và giá rẻ. Cái gì Việt Nam có lợi thế thì khai thác tối đa, còn cái gì không có lợi thế thì nên nhập từ các nước có lợi thế hơn. Đó là quy luật", ông Trúc chỉ rõ.

"Phải tổ chức lại sản xuất nhiều mặt, trong đó có sản xuất nguyên liệu cho ngành chăn nuôi", ông Trúc đề nghị. "Ngay như cỏ Việt Nam cũng phải nhập để phục vụ chăn nuôi bò, trong khi trồng cỏ rất dễ. Hiện nay một số nơi ở miền Nam đã sản xuất cỏ để xuất khẩu. Đây là mặt hàng Việt Nam có thể phát triển mà không lo được mùa mất giá.

Nói thế để thấy rằng phải thay đổi quan điểm và xây dựng lại chiến lược phát triển những cây, con Việt Nam có lợi thế và có thị trường, đừng chỉ quanh quẩn mỗi hạt gạo để cuối cùng nông dân mãi đói nghèo. Ở các nước có luật bảo vệ sản xuất trong nước rất nghiêm ngặt, khi thị trường biến động nông dân được bù lỗ nhưng Việt Nam không làm được việc đó. Do đó, phải chuyển đổi dù đó là quá trình khó khăn, có thể gặp nhiều vấn đề như trên nói nhưng địa phương không làm, quản lý đất đai ở Việt Nam manh mún, xé lẻ...".

FDI lợi đơn lợi kép

Bàn về nghịch lý của chăn nuôi Việt Nam, ông Đoàn Xuân Trúc cũng chỉ ra rằng, riêng với thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam, doanh nghiệp FDI chiếm lĩnh tới 60%, trong khi doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nội địa dù nhiều nhưng công suất nhỏ.

"Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam là các công ty đa quốc gia chuyên sản xuất thức ăn chăn nuôi nên có kinh nghiệm, có thị trường. Mặt khác, bởi trong nước không có nguồn nguyên liệu nên họ phải nhập.

Tin nóng

Tin mới