Đăng nhập

Đăng nhập để trải nghiệm thêm những tính năng hữu ích
Zalo

Xây hồ chứa nước ngọt ở Đồng Tháp Mười: Rủi ro

Chuyên gia đặt câu hỏi về tính khả thi của mục tiêu nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt khi nguy cơ hồ bị nhiễm phèn là rất cao.

Để ứng phó với tình hình khô hạn, xâm nhập mặn, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt, Long An đã tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng công trình hồ chứa nước ngọt xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa.

Trước đó, tháng 10/2016, tỉnh triển khai khảo sát lập quy hoạch hồ chứa nước ngọt trên vùng Đồng Tháp Mười, gồm 4 hồ tại các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, thị xã Kiến Tường và Thạnh Hóa. Trong đó, ưu tiên đầu tư giai đoạn 2017 - 2020 xây dựng hồ chứa nước ngọt xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa.

Song song với bước lập Quy hoạch hồ chứa vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh đã triển khai lập dự án đầu tư xây dựng công trình hồ chứa nước ngọt xã Thuận Bình theo trình tự thủ tục theo Luật đầu tư công.

Tổng mức đầu tư dự án hơn 718 tỷ đồng. Tổng diện tích khu vực dự án khoảng 140ha, trong đó, diện tích mặt hồ hơn 106ha. Phương án chọn bố trí tổng thể theo phương án hồ đôi. Dung tích hồ chia 2 phần, gồm phần phục vụ cho cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và dịch vụ; phần còn lại phục vụ cấp nước tưới cho nông nghiệp.

Theo tính toán của tỉnh Long An, dự án xây dựng hồ dự trữ nước ngọt ở Thạnh Hóa sẽ điều tiết nguồn nước ngọt trong mùa mưa lũ, cung cấp nước ngọt trong mùa khô trong vùng dự án nhằm phát triển bền vững KT - XH của tỉnh trong hiện tại và tương lai.

Quy hoạch dự án hồ chứa nước diện tích 140ha ở điểm màu xanh chính giữa bản đồ. Ảnh: Báo Long An

Chia sẻ ý kiến về dự án hồ trữ nước ngọt ở Thạnh Hóa, Long An, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn dẫn lời TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ) đặt câu hỏi về hiệu quả kinh tế của dự án.

"Chuyện xây hồ là phương án đầu tư để giữ nước ngọt, cho nên, phương án đầu tư đó cũng phải tính đến hiệu quả kinh tế", ông nói.

Một trong những nội dung mà dự án hướng tới là cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trong khi lợi nhuận từ lĩnh vực này thực tế là không cao.

“Ở đây, chúng ta không nói đến chuyện xây dựng hồ đó là đúng hay sai”, ông Ni nêu quan điểm và cho rằng cần có bài toán chi tiết về hiệu quả đầu tư, tức dự án có thật sự mang lại hiệu quả kinh tế hay không.

Một điểm khác, theo ông Ni, dự án nằm trong vùng “rốn phèn”, cho nên rủi ro hồ bị nhiễm phèn là rất cao. “Đây là vùng phèn nặng, vùng rốn phèn của Đồng Tháp Mười, thành thử, vùng này đào hồ sẽ bị phèn vào, đó là chưa nói đến chuyện đào ở vùng trũng trong vùng trũng nó sẽ gom phèn lại”, ông cho biết và nói rằng khi đó mục tiêu nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt có khả thi?

Vùng Đồng Tháp Mười quanh năm có nước ngọt, cho nên, theo quan điểm của ông Ni, phương án tốt nhất vẫn là điều tiết nước lũ, điều tiết hệ thống canh tác cho phù hợp. Bởi, đây là phương án vừa rẻ tiền, không phải chi xuất, không cần xây dựng những công trình lớn. “Đó là phương án tốt nhất”, ông Ni nhấn mạnh và cho rằng thay vì làm lúa vụ 3 thì có thể trồng sen kết hợp nuôi cá và trữ nước trong mùa lũ để điều tiết cho mùa khô.

Một trong những giải pháp để đảm bảo an ninh nguồn nước ở ĐBSCL là phải quy hoạch các hồ chứa nước ngọt phù hợp với toàn vùng và từng địa phương. Ở đây phải phù hợp với quy hoạch chung, tổng thể của cả vùng và từng địa phương, cung cấp nước cho sản xuất, vừa cung cấp nước cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt để giảm khai thác nước ngầm.

Trên cơ sở quy hoạch, các địa phương trong vùng phải xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch dài hạn, 10 năm, trung hạn, 5 năm và hàng năm. Trước mắt cần lựa chọn các dự án ưu tiên, đặc biệt là các hồ chứa nước ngọt để đầu tư trong giai đoạn 5 năm 2021 – 2015.

Dưới góc độ chuyên gia, GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT khi trao đổi với Đất Việt đã lưu ý đến đến vấn đề nước mặn đi ngầm dưới đất mà các dự án hồ chứa không xử lý được.

Ông kể lại câu chuyện Hà Lan từng cử một hội đồng khoa học sang giúp Việt Nam lập kế hoạch xây đê bao ven biển Gò Công-Vũng Tàu, nhưng sau họ rút lui.

Nguyên nhân có liên quan đến nguồn nước mặn. Kinh nghiệm là đối với những vùng nước biển như Việt Nam, Hà Lan thì nguồn nước mặn không phải chỉ đi trên mặt mà còn đi ngầm dưới đất, mà nguồn nước ngầm dưới biển thì rất mạnh. Nếu có làm cửa van đóng lại cũng không thể ngăn được nguồn nước mặn đi ngầm dưới đất này.

"Theo một tài liệu của Hà Lan mà tôi tiếp cận được, Rotterdam còn làm cửa van rất lớn, nhưng sau vài năm nước biển xâm nhập vào đã làm rỗng hết đất bên trong.

Dĩ nhiên, không thể phủ nhận đập ngăn mặn cũng có tác dụng là giảm mặn trước mắt ở trên, nhưng mặn ở dưới thì không giải quyết được. Điều này đối với các nước trồng lúa như Việt Nam càng nguy hiểm vì bộ rễ của lúa cần nước ngọt, khi cắm xuống đất gặp nước mặn lúa sẽ chết. ĐBSCL của Việt Nam là vùng do phù sa bồi đắp nên chắc chắn nước ngầm ở dưới rất mạnh, nếu xây đập ngăn mặn, sau này nước mặn phía dưới xâm nhập, ai chịu trách nhiệm?", GS.TS Vũ Trọng Hồng phân tích.

Bởi vậy, ông cho rằng, ĐBSCL vẫn phải làm hồ chứa, nhưng là hồ chứa để ém mặn, giữ nước trồng lúa, cây trái như của Hà Lan. Loại hồ đó không phải chỉ định theo vùng địa hình mà tùy theo vùng canh tác, hồ nhỏ, chứa đủ lượng nước mưa, lượng nước này ém nước mặn xuống chừng 70cm là có thể trồng lúa được.

Thực tế cũng đã chứng minh những lo ngại này của GS Hồng là đúng. Sau khi hồ trữ nước ngọt Ba Tri (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre)- được xem là lớn nhất ĐBSCL, bị nước mặn tấn công khi vừa đưa vào sử dụng, thất bại ngay trong mùa khô 2019-2020. Cho đến nay, bằng nhiều biện pháp, tình trạng trên đã cơ bản được xử lý, nhưng nước vẫn không thể ngọt hoàn toàn.

Theo lý giải của lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Bến Tre hồi đầu năm nay: "Hồ trữ nước ngọt Ba Tri bị nhiễm mặn là do nền đáy và nước ở trên đồng chảy xuống. Năm vừa rồi mới làm hồ, lượng nước tích vào hồ chưa được nhiều, đáy chưa được bằng phẳng theo thiết kế. Năm nay, tỉnh đã tiến hành cải tạo lại đáy cho bằng phẳng, đồng thời súc rửa hồ. Mỗi lần súc rửa như vậy, nước ở trên đồng tiếp tục chảy xuống nên nước vẫn bị nhiễm mặn. Đến giờ phút này, hồ gần như đã đảm bảo trữ ngọt được.

Tuy nhiên, ở sâu trong đất khu vực này vẫn có nguồn nước mặn đi ngầm, đất lại là đất bùn cát, việc cải tạo hồ để ngọt hoàn toàn là không thể. Độ mặn hiện nay không vượt quá ngưỡng, nước ở hồ được đưa vào xử lý, đảm bảo phục vụ người dân, còn tốt hơn là lấy nước ở bên ngoài nhiều".

Cùng với dự án này, tỉnh Bến Tre đang muốn đầu tư một dự án hồ trữ nước ngọt lớn hơn là dự án hồ trữ nước ngọt Lạc Địa, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri với tổng vốn đầu tư trên 352 tỷ đồng.

Minh Thái

Nguồn Đất Việt: http://datviet.trithuccuocsong.vn/khoa-hoc/khoa-hoc/xay-ho-chua-nuoc-ngot-o-dong-thap-muoi-rui-ro-3434158/