Yên Phong - Bắc Ninh: Đằng sau bản án là Lá đơn đẫm lệ của chị Thủy

Gốc
Tuần qua, tòa soạn nhận được đơn thư của chị Mẫn Thị Thủy, công dân thôn Ô Cách, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Nội dung đơn thư, chị Thủy nêu rõ quyền lợi về tài sản được hưởng của chị trong quá trình chung sống cùng chồng là anh Trương Đô Thắng (tên gọi khác là Trương Công Thắng) bị xâm phạm và mong muốn báo chí tìm hiểu, lên tiếng để các cơ quan chức năng giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị sau khi hoàn tất thủ tục li hôn với chồng.

Trong số các tài liệu do chị Thủy cung cấp cho cơ quan báo, có Bản án số: 14/2017/HNGĐ-ST ngày 19/05/2017 về việc ly hôn của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

Yên Phong - Bắc Ninh: Đằng sau bản án là Lá đơn đẫm lệ của chị Thủy - Ảnh 1

Theo nội dung Bản án số 14/2017/HNGĐ-ST: "Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: ..... Về tài của vợ, chồng có tranh chấp và yêu cầu giải quyết: Về đất ở khu Mái Đông thuộc lô 72 diện tích 168 m2. Theo chị Thủy xác định đây là đất của thôn cấp cho vợ chồng. Tiền sử dụng đất anh Thắng nộp là của chị Thủy đưa cho anh Thắng.

Ngoài lời khai, chị Thủy không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Trên cơ sở lời khai của các đương sự cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Xác định thửa đất này đã được quy hoạch là đất khu dân cư nông thôn. Nhưng đến nay chưa được bàn giao trên thực địa, chưa có cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho bất cứ ai. Nguồn gốc thửa đất là của hộ gia đình có các thành viên: cụ Trương Văn Hồng, Trương Thị Bút, Trương Đô Thắng, Trương Thị Lợi, Trương Thị Liêm, Trương Thị Giang, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các thành viên cư trú, được cấp vào năm 2005 thuộc diện đất rau xanh.

Năm 2006, hộ gia đình được cấp 2 (hai) lô đất giãn dân. Điều kiện cấp đất là do hộ gia đình bị thu hồi 324 m2 đất và được giãn dân tại chỗ (tại diện tích đất thu hồi). Như vậy, anh Thắng bà Cúc là 2 (hai) thành viên đại diện đứng tên nộp tiền sử dụng đất. Phiếu thu ghi tên anh Thắng nộp tiền lô đất số 72, diện tích 168 m2. Việc nộp tiền và ghi tên trong phiếu thu không phát sinh quyền sử dụng riêng của anh Thắng, không làm mất đi quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong hộ. Mặt khác, số tiền đã được xác nhận là do ông Hoan nộp.

Chị Thủy cho rằng chị đưa tiền cho anh Thắng đi nộp nhưng không có căn cứ gì để chứng minh. Như vậy không có cơ sở xác định quyền sử dụng đất là của vợ chồng anh Thắng chị Thủy. Giá trị sử dụng đất theo định giá là: 168 m2 x 440.000.000 đồng/ m2 = 73.920.000 đồng, Về thửa đất số 320, tờ bản đồ số 04 QH, phân lô diện tích 100 m2 tại khu trên Đồng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Theo chị Thủy khai, khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng có đóng góp tiền để mua. Giá trị tiền đóng góp tương đương 1/3 giá trị của đất. Phần của chị là 1/6 giá trị của đất. Ngoài lời khai, chị Thủy đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ để chứng minh. Kết quả cung cấp tài liệu của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Phong thể hiện: thửa đất số 320, tờ bản đồ số 04 QH phân lô, diện tích 100 m2 tại khu Trên Đồng, thôn Đồng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mang tên hộ ông Trương Công Hoan. Hình thành và sử dụng từ năm 1994. Các giấy tờ giao nhận của chính quyền địa phương và Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong, trình tự cấp giấy chứng nhận QSD đất tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong khi chị Thủy và anh Thắng kết hôn vào tháng 09/1999.

Như vậy, thửa đất được hình thành trước khi chị Thủy về làm dâu. Do vậy, không có căn cứ xác nhận là tài sản chung của vợ chồng anh Thắng chị Thủy. Giá trị của đất theo định giá là: 12.000.000 đồng/m2 x 100 m = 1.200.000 triệu đồng, Về ngôi nhà 03 tầng xây trên khu đất Mái Đông có 09 phòng trọ và 07 chiếc giường. Trong phòng trọ, lời khai của chị Thủy cho rằng là tài sản do vợ chồng tạo dựng vào năm 2013. Tuy nhiên, xem xét các chứng cứ do ông Hoan, bà Cúc và lời khai của những người làm chứng thể hiện: ông Hoan, bà Cúc là người đứng ra xây dựng. Anh Thắng là người được ông Hoan giao cho trông nom, mua nguyên vật liệu, nhận một số khoản tiền vay.

Sau khi công trình hoàn tất thì ông Hoan là người đứng ra trả tiền nguyên vật liệu, tiền công thợ, tiền vay xây dựng. Ông Hoan đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ để chứng minh cho lời khai của ông. Những người làm chứng cũng đều xác nhận đúng như lời của ông Hoan. Tuy nhiên, ông Hoan, bà Cúc thừa nhận khi xây ngôi nhà. Vợ chồng anh Thắng, chị Thủy có đóng góp 70.000.000 đồng. Trong đó, chị Thủy đưa 30.000.000 đồng, anh Thắng đưa 40.000.000 đồng. Ông bà nhất trí trích trả vợ chồng 70.000.000 đồng mặc dù ngôi nhà anh Thắng, chị Thủy đã sử dụng và có khấu hao. Đối với chị Thủy và anh Thắng, ngoài lời khai, anh chị không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở xác định ngôi nhà và 09 phòng trọ là tài sản chung của vợ chồng. Giá trị còn lại của ngôi nhà theo định giá là 490.560.000 đồng, 09 phòng trọ là 134.820.000 đồng, 07 chiếc giường là 2.800.000 đồng.

Về số tiền thu được do cho thuê phòng trọ: Như đã phân tích ở trên, thì phòng trọ do ông Hoan, bà Cúc bỏ tiền ra xây. Không phải là tài sản của vợ chồng nên chị Thủy không được quyền yêu cầu bà Cúc, ông Hoan phải trích trả số tiền chị yêu cầu là 85.500.000 đồng, Về các tài sản là đồ dùng vật dụng:... Tổng giá trị theo định giá là 89.500.000 đồng. Tại phiên tòa, anh Thắng, chị Thủy cùng xác nhận là tài sản chung của vợ chồng. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì. Nên có cơ sở xác định là tài sản chung của anh Thắng, chị Thủy.

Từ phân tích trên, nhận định: Xét thấy quan điểm đề xuất hướng giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát tại Tòa án là có căn cứ. Lời trình bày và yêu cầu của bị đơn (chị Mẫn Thị Thủy) cùng người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn được chấp nhận một phần. Hội đồng xét xử phân chia: Giao cho anh Thắng được quyền sở hữu và định đoạt toàn bộ số tài sản chung của vợ chồng. Nhưng có trách nhiệm trích trả chị Thủy giá trị bằng tiền theo giá định giá tương đương phần quyền chị được hưởng là 44.750.000đồng. Ngoài ra, ngoài số tài sản anh chị còn đóng góp công sức xây dựng ngôi nhà là 70.000.000 đồng. Buộc bà Cúc là người đại diện phải trích trả anh Thắng, chị Thủy mỗi người 35.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà Cúc cho rằng từ khi chị Thủy về làm dâu. Kinh tế gia đình bà có phát triển như xây dựng nhà phòng trọ cho thuê. Nên bà tự nguyện trích công sức cho chị Thủy 80.000.000 đồng...".

Không đồng ý với nội dung xét xử của TAND huyện Yên Phong tại Bản án số 14/2017/HNGĐ-ST ngày 19/05/2017, ngày 25/05/2017, chị Thủy đã làm Đơn kháng cáo Bản án nêu trên và được TAND huyện Yên Phong tiếp nhận đồng thời tiến hành xem xét Đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trao đổi với phóng viên, chị Thủy cho biết: "Năm 1999, chị và anh Trương Đô Thắng kết hôn. Đến đầu năm 2000, gia đình chồng chị đồng ý cho vợ chồng chị ra ở riêng nhưng không thu xếp cho vợ chồng chị chỗ ở. Vì lẽ đó mà vợ chồng chị phải đi ở nhờ nhiều nơi xung quanh xã. Đến tháng 06/2004, vợ chồng chị xin phép bố mẹ chồng để được ra ở thửa đất ruộng diện tích 324 m2. Được chấp thuận, vợ chồng chị ra mảnh đất ruộng (lúc này gia đình chồng chị đã không làm nông nghiệp trên thửa đất này nhiều năm) chiêm trũng, cất công cải tạo, san nền để lợp thành một túp lều làm nơi sinh sống. Hàng ngày chị chạy chợ kiếm sống, chồng chị lúc ở nhà trông con, lúc làm thêm lặt vặt kiếm đồng ra đồng vào.

Đến năm 2006, thửa đất ruộng này bị thu hồi. Vì vợ chồng chị sinh sống và có hộ khẩu tại đây nên ngoài một lô đất được cấp cho tiêu chuẩn thu hồi tái định cư thuộc về hộ gia đình chồng chị là lô đất số 71, thì vợ chồng chị được xét cấp một lô đất nữa là lô đất số 72. Đối với lô đất số 72 này, chị Thủy đưa tiền cho anh Thắng đi nộp và có biên lai nộp tiền đàng hoàng. Sau khi được phân đất, anh Thắng có bàn với chị là muốn xây nhà.

Lúc này, chị thuận theo ý chồng, dùng hết số tiền dành dụm của mình, cộng thêm vợ chồng anh chị vay mượn của bố mẹ đẻ chị số tiền 200.000.000 đồng. Anh chị xây 01 căn nhà 03 tầng trên lô đất số 71 (căn nhà này vợ chồng chị xây để ở với tổng số tiền gần 600.000.000 đồng) và xây thêm 09 phòng trọ trên lô đất số 72 (phần xây này thì anh chị cho thuê phòng trọ). Từ khi hoàn thiện xong công trình xây dựng, chồng chị không đi làm gì mà chỉ ở nhà và thu tiền cho thuê phòng trọ (số tiền cho thuê phòng trọ được gần 6.000.000 đồng/ tháng), còn chị vẫn chạy chợ kiếm tiền chăm lo cho cả gia đình sinh hoạt.

Theo chị thì bố chồng chị là cán bộ về hưu non nên lương hưu chỉ được có vài trăm nghìn một tháng, còn mẹ chồng chị thì không làm gì cả, chỉ ở nhà trông cháu nội, ngoại. Chị chạy chợ kiếm tiền và chăm lo cho cả gia đình. Trong khoảng thời gian này, chồng chị do không làm gì, ở nhà nên sinh ra nghiện cá độ gà chọi và cũng tiêu tốn không ít tiền của vợ chồng, ngoài ra anh Thắng còn phát sinh quan hệ nam nữ với người khác khiến chị rất buồn lòng.

Chính vì vậy mà năm 2015, chị đã quyết định nghỉ chạy chợ, ở nhà chăm lo nhiều hơn cho gia đình. Lúc này chị đề nghị với chồng là chị sẽ thu tiền cho thuê phòng trọ để chi tiêu sinh hoạt gia đình. Không đồng ý với yêu cầu của vợ, anh Thắng đã đánh chị Thủy dẫn đến phải nhập viện với bệnh án "chấn thương sọ não". Trong thời gian chị nằm viện, anh Thắng không những không qua lại thăm nom vợ mà còn đơn phương nộp Đơn xin ly hôn đẩy chị ra đường trong tình trạng gần như tay trắng...".

Câu chuyện gia đình của chị Thủy còn dài khi chị vừa chia sẻ vừa nức nở khóc. Tuy nhiên, sự việc có thật như chị trình bày hay không, phóng viên còn phải tác nghiệp điều tra. Nhưng theo ghi nhận, tại thời điểm tiếp xúc với chị Thủy (sau hơn 02 năm kể từ ngày anh Thắng đơn phương gửi Đơn xin ly hôn, chị Thủy phải về tá túc nhà bố mẹ đẻ). Khi phóng viên thắc mắc: Tại sao Bản án chưa có hiệu lực, Tòa án chưa phân định việc ly hôn của vợ chồng chị, chị không về nhà để ở? Một lần nữa chị Thủy lại nức nở: "Nhà họ không cho em vào nhà, hiện giờ chồng em đang ở với một người phụ nữ đã mang bầu gần đến tháng đẻ. Việc này trong làng ngoài xóm ai cũng biết. Em về sợ họ lại đánh chửi em".

Qua hồ sơ tiếp nhận từ chị Thủy, nhận thấy các văn bản, giấy tờ cũng như chứng lý, căn cứ được nêu trong Bản án số 14/2017/HNGĐ-ST cần được xác minh làm rõ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả hai vợ chồng chị Thủy và những người có liên quan. Phóng viên đã tiếp xúc với ông Đào Văn Sơn - Chủ tịch UBND xã Đông Tiến để tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc đất đai được cho là nguyên nhân tranh chấp tài sản giữa chị Thủy và gia đình chồng.

Sự việc sẽ được chúng tôi phản ánh khách quan trong các bài viết sau.

Hiền Anh - Thu Trung

Tin nóng

Tin mới