TPO - Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.

Trong tình huống chiến tranh phức tạp và nguy hiểm như vậy, hiệp đồng tác chiến với lực lượng phòng không Việt Nam là lực lượng trinh sát điện tử trên biển của Hải quân Liên Xô, nhiệm vụ nặng nề này được giao cho lực lượng Hạm đội Thái Bình Dương. Trước khi không quân Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại, hệ thống trinh sát ven biển và hệ thống trinh sát hạm đội nhận nhiệm vụ chung là nắm bắt tình hình chiến sự tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, tập trung chủ yếu vào mục đích phát hiện kịp thời những hoạt động chuẩn bị chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam. Từ những tin tức tình báo thu được, Bộ tổng tham mưu lực lượng vũ trang Xô Viết quyết định triển khai sớm lực lượng trinh sát trên biển của Hạm đội Thái Bình Dương. Quyết định này đã đóng góp một phần rất lớn cho việc làm rõ các tình huống sự kiện Vịnh Bắc bộ đồng thời cung cấp kịp thời những thông tin trinh sát các hoạt động của hạm đội 7 Mỹ trên biển Đông.

Thời gian này, các tàu trinh sát đang nằm trong biên chế của tiểu đoàn trinh sát điện tử số 169 OSNAZ và neo đậu tại bến tàu số 37 tại Vladivostok, gần tượng đài Nevelsky. Tiểu đoàn trường đại úy hạng II A.I. Procenko, sau đó là đại úy hạng II Plotkin. Đây là những chiếc tàu đánh cá loại nhỏ và vừa, được lắp đặt dày đặc bên trong đủ các loại trang thiết bị khí tài trinh sát điện tử. Tiến hành các hoạt động trinh sát là các chiến sĩ đặc nhiệm của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO).

Nhóm trinh sát điện tử trên biển có khoảng 20 người với các bộ khí tài biên chế có khả năng bắt được hầu hết tất cả các loại phương tiện và các phương pháp thông tin liên lạc, theo dõi các đường dây thông tin liên lạc, tiến hành trinh sát và phát hiện các đài thu phát radars đối phương. Các chuyên gia trinh sát điện tử phải nhìn và phát hiện chính xác bằng mắt thường tất cả các mục tiêu di động trên biển và trên không theo hình dáng của nó. Trong biên chế, các tàu trinh sát điện tử này trực thuộc lực lượng hải quân Xô Viết, quân nhân được mặc thường phục. Điều đó đã làm lên huyền thoại của đơn vị trinh sát. Các tàu trinh sát thường ra khơi rất bí mật, vào những đêm tối trời và quay về căn cứ cũng tương tự như vậy. Các tàu neo đậu yên lặng ở bến tàu số 37 và không gây bất kỳ một sự chú ý nào của mọi người.

Lực lượng đặc nhiệm trên Biển Đông

Những năm đầu của cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đã khẳng định tính ưu việt và hiệu quả rất cao của trinh sát điện tử trên biển. Những thông tin nhận được của trinh sát điện tử trên biển rất đầy đủ và có giá trị rất cao, vượt xa các nguồn thông tin trinh sát tình báo khác. Hơn nữa, các thông tin tình báo và trinh sát điện tử thu được rất kịp thời. Hoàn toàn trong thời gian thực, hàng ngày Bộ tham mưu hạm đội Thái Bình Dương, Cục tình báo lực lượng vũ trang Liên Xô nhận được các tin tức trinh sát ngay trong vùng chiến sự trên biển Đông.

Tương tự như ngày nay chúng ta xem chương trình TV “Vremia – Time”. Tất cả có được là nhờ công sức và sự cố gắng vô tận của đại úy hạng 1 N.P.Sotnhicov (sau này là chuẩn đô đốc hải quân Liên bang) chỉ huy trưởng lực lượng trinh sát và tình báo hạm đội Thái Bình Dương. Ông đã nỗ lực rất nhiều để tăng cường năng lực hoạt động của đơn vị tình báo – trinh sát trên biển, theo yêu cầu bức thiết của tình hình. Trong những tình huống đó, kể cả có va chạm với các lãnh đạo quân sự cao cấp của Liên bang, ông cũng kiên quyết đấu tranh để đạt được quyết định biên chế tổ chức trong lực lượng Hải quân Xô viết cụm tàu tình báo – trinh sát đặc nhiệm trên biển.

Ngày 1.10.1969 tại căn cứ của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO) số 19, trong biên chế có tiểu đoàn độc lập 169 OSNAZ đã thành lập hải đoàn trinh sát điện tử OSNAZ thuộc hạm đội Thái Bình Dương, trong biên chế của Hải đoàn có 15 tàu trinh sát biển, 19 phân đội trinh sát điện tử và radar với 10 nhóm trinh sát cơ động OSNAZ và 203 căn cứ bí mật trên bờ biển. Trong biên chế của hài đoàn có các tàu trinh sát hạng trung như "Gabriel Sarychev," "Hydrograph", "Bearing" các tàu trinh sát nhỏ như "Hydrology", "Aneroid", "Kursograf", "Izmeritel", "Protractor", "Ammeter", "Barograph", "Hydrophone", "Deflector" "Kirby" "Ungo" "Usach".

Theo tên gọi thì đó hoàn toàn là các tàu đo đạc, theo dõi thủy văn môi trường. Chỉ huy trưởng của hải đoàn là đại úy – thuyền trưởng hạng 1 Dmitry Timofeevich Lukash, đã từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ II. Nhờ những nỗ lực và sự cố gắng của ông, hải đoàn trở thành trường học nghiêm khắc và tài năng thật sự cho các sĩ quan chỉ huy lực lượng tình báo – trinh sát của Hải quân và Hạm đội, các hải đoàn trưởng, các thuyền trưởng và các phân đội trinh sát. Nhiều người đã trải qua các thử thách khốc liệt trong chiến tranh Việt Nam.

Sơ đồ cơ động của các cụm không quân hải quân công kích Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ.

Trong giai đoạn từ ngày 4.1964 đến 31.12.1974, các tàu trinh sát hải quân Xô Viết hoạt động chủ yếu trong khu vực biển Đông, Vịnh Bắc bộ và khu vực quanh căn cứ Guam của Mỹ, ngoài những nhiệm vụ tình báo quân sự, các tàu trinh sát đã tiến hành các hoạt động trinh sát nhằm cung cấp thông tin chiến dịch, chiến thuật của không quân hải quân Mỹ cho các lực lượng phòng không Việt Nam và lực lượng phòng thủ bờ biển Miền Bắc Việt Nam. Những nhiệm vụ chủ yếu là:

- Trực tiếp theo dõi các cụm máy bay tấn công của không quân hải quân Mỹ, xác định khu vực máy bay Mỹ sẽ tiến hành các hoạt động tập kích đường không;

- Cảnh báo sớm bộ tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Liên Xô và hạm đội Thái Bình Dương về sự chuẩn bị các đợt không kích, thời gian cất cánh của các không đoàn máy bay hải quân Mỹ trên tàu sân bay vào miền Bắc Việt Nam.

- Phát hiện và làm rõ các thủ đoạn chiến thuật mà các không đoàn hải quân Mỹ sẽ sử dụng để không kích miền Bắc cũng như các tuyến đường cơ động của các chiến hạm Mỹ khi tiến hành phong tỏa Vịnh Bắc Bộ.

Các tàu trinh sát hoạt động trên khoảng 3 dặm cách vịnh Apra thuộc đảo Guam, nơi có căn cứ đóng quân của hải đoàn tàu ngầm hạt nhân Mỹ mang tên lửa đạn đạo "Polaris-Poseidon", ngoài những nhiệm vụ chính là theo dõi hoạt động của các tàu ngầm chiến lược mang tên lửa, còn thực hiện nhiệm vụ phát hiện các chuyến bay của máy bay B-52, mục tiêu tác chiến của chúng từ căn cứ không quân Andersen và theo dõi các đợt không kích của B-52 vào các mục tiêu đang nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Thời gian bay của các máy bay B-52 thông thường kéo dài 6 giờ bay, đến thời điểm đó, các hệ thống phòng không Việt Nam đã được cảnh báo theo đường thông tin liên lạc khẩn cấp và trực 24/24 từ tàu trinh sát thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Xô Viết và truyền đến các đơn vị phòng không – không quân Việt Nam.

Tàu trinh sát Gidrofon – Liên Xô và tàu tác chiến điện tử Abnaki - ATF96 của Mỹ song hành trên biển Đông..

Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.

Nhiệm vụ thành công đầu tiên của các tàu trinh sát thực hiện là vào ngày 2.08.1964 trong cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc bộ”. Trong sự kiện này, các chiến hạm của hạm đội 7 đã xâm phạm vùng lãnh hải của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục đích khiêu khích, nhằm đánh lừa dư luận nước Mỹ và thế giới, đồng thời tạo cớ mở rộng cuộc chiến, tiến hành các hoạt động đánh phá miền Bắc Việt Nam. Để lừa dối công luận, Mỹ đã đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng các tàu phóng ngư lôi của Việt Nam đã tấn công tàu khu trục Maddox của Mỹ trên vùng biển quốc tế. Việt Nam kiên quyết bác bỏ lời cáo buộc này. Bộ tổng tham mưu liên quân Mỹ và bộ tư lệnh hải quân Mỹ cũng nghi ngờ về điều này.

Lúc đó từ tàu trinh sát "Protraktorv" (thuyền trưởng đại úy hạng 3 N.P. Fadeev, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ trung úy V.I. Levushkin) đã gửi báo cáo chính xác tọa độ và quỹ đạo hoạt động của tàu Maddox, chứng minh tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động trinh sát đã xâm phạm lãnh hải Việt Nam. Mặc dù vậy, không quân Mỹ ngày 5.08.1964 vẫn tiến hành cuộc ném bom bắn phá lãnh thổ Việt Nam. Ngày 10.10.1964, Quốc hội Mỹ đã thông qua Nghị quyết “Vịnh Bắc bộ” mở đường cho sự can thiệp bằng lực lượng vũ trang. Nghị quyết đã cho phép Tổng thống Lyndon Johnson được quyền sử dụng lực lượng vũ trang Mỹ ở Đông Nam Á, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược chống miền Bắc Việt Nam. Nhà nước Liên bang Xô viết dựa trên các bằng chứng đã khẳng định các hoạt động của Mỹ chính xác là một cuộc xâm lược, các bằng chứng sau này đã được công luận Mỹ sử dụng trong các hoạt động chống chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.

Từ thời điểm đó, các tàu trinh sát điện tử đã tiến hành trực chiến trên biển Đông trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ của miền Bắc Việt Nam. Khu vực trinh sát chủ yếu là trung tâm các hoạt động tác chiến đường không của cụm tàu sân bay chiến thuật số 77 ( tập đoàn không quân tiến công chủ lực của hạm đội 7 Mỹ), hoặc như lính Mỹ vẫn gọi là "Yankee Station". Các tàu trinh sát của hạm đội Thái Bình Dương hoạt động ngay gần các tàu chiến Mỹ, thay đổi các tàu trực chiến cũng được thực hiện ngay trong khu vực.

Điều đó trở lên quen thuộc đến nỗi thủy thủ đoàn của Mỹ đưa tàu trinh sát của Liên Xô trở thành một phần không thay đổi của cụm tàu tác chiến chủ lực. Nhiệm vụ chủ yếu của tàu trinh sát lúc này là kịp thời thông báo cho Phòng không Việt Nam về các đợt tập kích ồ ạt của không quân hải quân Mỹ từ tàu sân bay, theo những thông tin thu thập được từ những kênh thông tin liên lạc của Hải quân Mỹ. Trong thời gian này, trên Biển Đông có khoảng 8 tàu sân bay hoạt động, cụm không quân hải quân công kích chủ lực này có khoảng 150 chiến hạm và tàu hỗ trợ hậu cần kỹ thuật đi cùng.

Tàu trinh sát điện tử Xô Viết hoạt động ngay cạnh cụm tàu sân bay Mỹ trên biển Đông.

Theo sự mở rộng hoạt động và tăng cường quân số của các tập đoàn quân đội Mỹ trong chiến tranh, nhiệm vụ của lực lượng trinh sát trên biển cũng được mở rộng. Các hải cảng quân sự như Đà Nẵng, Cam Ranh, Nha Trang trở thành những căn cứ quân sự trung chuyển, từ đó các lực lượng bộ binh và lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Vì vậy, các lực lượng trinh sát điện tử trên biển được tăng cường nhiệm vụ theo dõi các hoạt động triển khai lực lượng của quân đội Mỹ và những chiến dịch do quân đội Mỹ triển khai trên các khu vực thuộc miền Nam Việt Nam.

Đến tháng 2 năm 1968, trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả vùng nước và đất liền tham gia hoạt động tác chiến có 543.000 quân nhân Mỹ tham chiến (hơn 30% quân số của toàn bộ LLVT Mỹ , 40% máy bay cấp chiến thuật, gần 70% lực lượng lĩnh thủy đánh bộ…). Tổng số lực lượng tham chiến của Hạm đội 7 (35.000 người.) lực lượng không quân Mỹ có mặt ở Thái Lan và Guam (45.000 người), quân số của quân đội Mỹ ở khu vực Đông Nam Á lên đến hơn 600.000 người. Cũng theo yêu cầu hiệp đồng tác chiến, trong chiến trường Miền Nam Việt Nam đã lôi kéo thêm các đồng minh khu vực như (Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Australia và New Zealand). Với số lượng không lớn, những cũng tăng cường thêm nhiều năng lực tác chiến của quân đội Mỹ.

Hiệu quả tác chiến cao của lực lượng trinh sát trên biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ đã có được một kết quả vô cùng quan trọng. Ngày 28.2.1965 trong thời gian thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch hội đồng Xô Viết tối cao toàn Liên bang ông A.N.Kosygin, phía Việt Nam đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc Liên Xô đã cũng cấp kịp thời và chuẩn xác những thông tin cảnh bảo sớm về các cuộc không kích của lực lượng không quân Hải quân và lực lượng Không quân chiến lược – chiến thuật Mỹ. Nhờ có những thông tin cảnh báo sớm mà lực lượng phòng không Việt Nam có thời gian chuẩn bị, sẵn sàng đánh chặn và phản kích mọi cuộc tập kích đường không. Điều đó giúp cho nhân dân Việt Nam giảm thiểu những tổn thất và lực lượng vũ trang giáng những đòn chí mạng vào kẻ thù. Khi A.N.Kosygin quay về sau chuyến thăm, tại Vladivostok đã quan tâm đến vấn đề, bằng cách nào mà lực lượng trinh sát điện tử hạm đội Thái Bình Dương có thể chi viện thông tin tình báo kịp thời cho Việt Nam.

Cục trưởng trinh sát điện tử, chuẩn đô đốc A.N.Sotnikov đã báo cáo chi tiết thống kê các hoạt động và kết quả đạt được của các tàu trực chiến trinh sát điện tử trên Biển Đông và khu vực đảo Guam. Cùng với thời gian tàu trinh sát điện tử "Gidrofon" quay trở về căn cứ ngày 28.02.1965. A.N.Kosygin đã trực tiếp lắng nghe báo cáo của thuyền trưởng trung úy hải quân A.A. Plotnhicov và chỉ huy trưởng nhóm trinh sát điện tử thượng úy V. Danhilov. Lắng nghe báo cáo đồng thời nghe được điều kiện sống và làm việc của thủy thủ đoàn trong thời gian trực tác chiến dài ngày trên biển, A.N.Kosygin đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng chuẩn bị Nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng Xô viết về hoạt động của các tàu trinh sát điện tử và khẩu phần – quyền lợi đặc biệt của lực lượng khi tiến hành các hoạt động tác chiến trên biển lớn ( Nghị quyết số №433).

Anh hùng ca

Ngày 2.06.1967 Tàu vận tải containers Liên Xô “Turkestan” neo đậu dỡ hàng tại vùng nước cảng Cẩm Phả, bị máy bay cường kích hải quân Mỹ tấn công. Thủy thủ kỹ thuật viên điện lực Nicholas Ribachuk hy sinh, sáu người khác bị thương. Một vụ scandal chính trị bùng nổ nghiêm trọng, vì người Mỹ quyết liệt bác bỏ việc máy bay Mỹ tấn công tàu xô Viết. Nhưng như những câu truyện truyền thống của Nga “trinh sát báo cáo chính xác” Nhóm trinh sát điện tử từ tàu GS-34, thuyền trưởng – đại úy hải quân B.M. Mozzhukhin đã chặn được thông tin liên lạc vô tuyến của nhóm máy bay không kích Mỹ từ tàu sân bay và đưa ra những số liệu chính xác về số hiệu các máy bay thuộc phi đội bay từ tàu sân bay "Midway", thời gian và địa điểm của cuộc tấn công. Phía Mỹ đã buộc phải xin lỗi về vụ việc đã xảy ra và chấp nhận đền bù thiệt hại. Trưởng nhóm trinh sát điện tử B.M.Mozzhukhin đã được trao huân chương "Sao Đỏ".

Ngày cũng như đêm, các trinh sát viên điện tử tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết.

Từ tháng 5.1972 quân đội Mỹ tiến hành các hoạt động ồ ạt phong tỏa bằng thủy lôi các tuyến đường hàng hải vào các hải cảng của miền Bắc Việt Nam. Thủy lôi được thả bởi các máy bay của không quân Hải quân Mỹ A-7 "Corsair" và A-6 "Intruder" từ các tàu sân bay "Kitty Hawk" và "Coral Sea", trong vòng 8 tháng Mỹ đã thả hơn 11.000 thủy lôi Мк-36 và Мк-52-2. Lượng thủy lôi được thả nhiều nhất vào tháng 8.1972, khi không quân Hải quân Mỹ từ 6 tàu sân bay bí mật thả các thủy lôi mang đầu nổ thủy âm và từ trường trên tuyến hành lang hàng hải dẫn vào cảng Hải Phòng và ngay trong lòng sông Cấm.

Tại cảng Hải Phòng, mười tàu vận tải bị phong tỏa không rời cảng. Chiến dịch này bị phát hiện kịp thời bởi nhóm trinh sát điện tử thuộc tàu trinh sát "Deflektor" (thuyền trưởng – đại úy C.V. Kuchin, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ K.P.Chudin) hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ. Thông tin chiến dịch đã kịp thời thông báo cho Bộ tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương và Cơ quan lãnh đạo đơn vị vận tải tầm xa của Vladivostok. Nhờ thông tin kịp thời mà các tàu hàng hải Xô Viết không bị trúng thủy lôi.

Các cuộc đàm phán diễn ra trong điều kiện những tổn thất về binh lực và sinh lực Mỹ ngày càng tăng, các hoạt động tấn công của lực lượng Quân Giải phóng Miền Nam diễn ra dồn dập trên khắp các chiến trường. Miền Bắc Việt Nam tiếp tục nhận được những tổ hợp tên lửa phòng không Dvina và tên lửa, đủ khả năng tiêu diệt tất cả các mục tiêu trên không của Không quân Mỹ và rất hiệu quả khi chiến đấu với các vật thể bay tầm thấp. Không quân Việt Nam nhanh chóng lớn mạnh và càng ngày càng tác chiến hiệu quả. Trên các phương tiện thông tin đại chúng SMI đăng càng ngày càng nhiều hình ảnh các máy bay bị bắn rơi và phi công Mỹ bị bắt làm tù binh.

Trong cuộc đàm phán cam go này, các đại diện cho chính phủ Mỹ muốn tìm một giải pháp rút quân khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Với tư cách là một siêu cường, người Mỹ lựa chọn giải pháp chính trị dựa trên sự đe dọa vũ lực. Từ 25.12.1972 Bộ chỉ huy tối cao quân đội Mỹ bắt đầu tiến hành một chiến dịch không kích miền Bắc quy mô lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh tính từ năm 1945 trở về sau này, nhằm vào hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng đồng thời không kích các căn cứ quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vấn đề quan trọng nhất là yếu tố bất ngờ.

Máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay vào đánh phá Miền Bắc Việt Nam.

Cuộc không kích bắt đầu vào những ngày trước lễ Giáng sinh không xa, theo thông lệ người Mỹ sẽ không tiến hành các hoạt động chiến tranh tích cực. Thực hiện cuộc tập kích đường không này, người Mỹ đã sử dụng tất cả lực lượng không quân ở châu Á Thái Bình Dương khu vực Đông Nam Á. Chỉ tính riêng không quân Hải quân trên 7 tàu sân bay của Mỹ đã tiến hành 1500 lần xuất kích.

Nhưng Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và ban cố vấn quân sự Liên xô đã nắm chắc được ngay từ thời điểm đợt cất cánh ồ ạt của không quân Mỹ từ các tàu sân bay. Nguồn thông tin cung cấp là tàu trinh sát điện tử "Kursograf" (thuyền trưởng - chỉ huy trưởng O.D.Tulchin, các chỉ huy của nhóm OSNAZ là thuyền trưởng - trung úy V.G. Kozlov, Thượng úy hải quân V.A.Karev) nằm ngay ở trung tâm đội hình chiến đấu của Tập đoàn không quân hải quân tấn công chủ lực số 77 Mỹ. Tàu trinh sát điện tử nằm trên khu vực căn cứ Guam đã thông báo kịp thời, chính xác thời điểm các cụm máy bay ném bom chiến lược B-52 bắt đầu cất cánh, số lượng máy bay, giãn cách khoảng cách bay của đội hình chiến đấu. Do thu thập thường xuyên thông tin trao đổi giữa chỉ huy mặt đất và các lực lượng tập kích, các tàu trinh sát điện tử đã nắm chắc được từng diễn biến bắt đầu các đợt không kích cả ở Utapao và Guam.

Những thông tin thu thập được thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Liên xô đến Bộ tham mưu QĐNDVN liên tục, kịp thời, cho phép toàn bộ hệ thống phòng không Việt Nam được đưa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu đúng thời điểm nhất. Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ đã ném hơn 100 nghìn quả bom các loại và Phòng không Việt Nam cũng hạ 81 máy bay Mỹ, trong đó có 31 là pháo đài bay B-52 và 5 F-111. Trước sức ép ngày một tăng của công luận quốc tế đồng thời gánh chịu những tổn thất nặng nề trong cuộc chiến, đến ngày 27.01.1973. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về việc rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Miền Nam Việt Nam.

Từ tháng 2 đến tháng 4.1973. Người Mỹ sau khi kết thúc cuộc chiến tranh trên không chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chuyển toàn bộ hoạt đ